Bác Sĩ Zhivago

Phần 14 – Trại Varykino
Trước
image
Chương 14
  • Chương 1
  • Chương 2
  • Chương 3
  • Chương 4
  • Chương 5
  • Chương 6
  • Chương 7
  • Chương 8
  • Chương 9
  • Chương 10
  • Chương 11
  • Chương 12
  • Chương 13
  • Chương 14
  • Chương 15
  • Chương 16
Tiếp

Đã là mùa đông rõ ràng. Tuyết rơi từng búp lớn. Bác sĩ Zhivago từ bệnh viện về đến nhà. Lara ra cửa đón chàng và nói, giọng khàn khàn, lạc đi:
– Komarovski đã đến.

Hai người đang đứng ở phòng ngoài. Lara có vẻ bàng hoàng như vừa bị ai đánh.

– Đến đâu? Đến gặp ai? Hắn đang ở nhà ta à?

– Không, dĩ nhiên. Buổi sáng hắn đến và còn muốn đến vào tối nay nữa. Hắn sắp tới đấy. Hắn có chuyện cần nói với anh.

– Hắn đến đây làm gì?

– Em không hiểu hết tất cả những lời hắn nói. Hắn bảo rằng hắn tạt qua đây trên đường đi Viễn Đông, hắn đã rẽ vào Yuratin, chủ ý để gặp chúng ta. Chủ yếu là vì anh và Pasa. Hắn nói rất nhiều về cả hai anh. Hắn quả quyết rằng cả ba chúng ta, nghĩa là anh, Pasa và em đang ở trong tình trạng nguy hiểm chết người, rằng chỉ có hắn mới đủ sức cứu chúng ta, nếu chúng ta chịu nghe lời hắn.

– Anh đi đây. Anh không muốn thấy mặt hắn.
Lara khóc và quỳ xuống ôm hai chân Zhivago và gục đầu vào đó, nhưng chàng dùng sức ngăn lại được.

– Em van anh, vì em, anh hãy ở lại. Em hoàn toàn không sợ đối đầu với hắn. Nhưng như thế khổ tâm lắm. Anh hãy giải thoát cho em khỏi phải gặp riêng hắn. Hơn nữa, hắn là một người thực tế, từng trải. Có thể hắn sẽ đưa ra đôi lời khuyên hữu ích. Thái độ ghê tởm của anh đối với hắn là điều tự nhiên. Nhưng xin anh hãy tạm gác qua một bên. Anh đừng đi.

– Em làm sao thế, thiên thần của anh? Bình tĩnh nào. Em làm gì vậy? Đừng quỳ xuống thế. Đứng thẳng lên em và vui lên xem nào. Hãy xua đuổi điều đang ám ảnh em. Hắn đã làm cho em sợ hãi suốt đời. Anh ở bên em đây. Nếu cần, nếu em ra lệnh, anh sẽ giết hắn.

Nửa giờ sau, trời đã tối mịt. Nửa năm nay, mọi lỗ trống dưới sàn đều được bịt kín. Zhivago theo dõi, hễ thấy xuất hiện một lỗ mới, liền bịt kín lại ngay. Nhà còn nuôi một con mèo to lông xù, lúc nào cũng ngồi bất động, mắt ngó đăm đăm đầy vẻ bí hiểm. Chuột vẫn không bỏ nhà đi nơi khác, nhưng chúng trở nên dè dặt hơn.

Trong lúc chờ Komarovski, Lara cắt khẩu phần bánh mỳ đen thành nhiều lát và đặt một cái đĩa lỏng chỏng mấy củ khoai luộc lên bàn. Họ chuẩn bị tiếp khách ở buồng ăn cũ của chủ cũ, hiện cũng được họ dùng làm phòng ăn. Ở đây có chiếc bàn ăn rất lớn bằng gỗ sồi và chiếc tủ bát vừa to vừa nặng, cũng bằng gỗ sồi sẫm. Trên bàn đốt một ngọn bấc nhúng trong một lọ dầu, đó là chiếc đèn lưu động của Zhivago.

Komarovski xuất hiện từ trong bóng tối tháng chạp, người phủ đầy tuyết. Tuyết từ trên chiếc áo lông, mũ và ủng cao su của hắn rơi xuống từng mảnh và tan ra đọng thành vũng trên sàn nhà. Tuyết bám vào râu ria hắn (trước kia hắn mày râu nhẵn nhụi, chứ không để lòng thòng như bây giờ) khiến hắn trông giống một gã hề. Hắn mặc chiếc áo vét, gilê lành lặn, khá mới và chiếc quần sọc còn nguyên nếp. Trước khi chào chủ nhà và mở miệng nói, hắn dùng chiếc lược bỏ túi chải đi chải lại mái tóc ẩm, đẹp và lấy chiếc khăn tay chùi chùi thấm thấm mãi bộ ria và lông mày bị ướt. Sau đó, hắn giữ vẻ im lặng đầy ý nghĩa, chìa đồng thời cả hai tay, một cho Lara, tay phải cho Zhivago, và nói với chàng:
– Ta hãy coi như đã quen nhau. Tôi từng là bạn rất thân của cha anh, chắc anh biết. Ông cụ đã tắt thở trong tay tôi. Tôi ngắm kỹ anh từ nãy, cố tìm sự giống nhau. Nhưng không, anh không giống ông cụ. Tính ông cụ phóng khoáng lắm. Bồng bột, sôi nổi, nhanh nhẹn. Nhìn bề ngoài, anh giống cụ bà hơn. Cụ bà là một phụ nữ mềm mỏng, ưa mơ mộng.

– Lara đề nghị tôi tiếp ông. Nàng bảo ông có việc muốn nói với tôi. Tôi chiều ý nàng. Cuộc nói chuyện này là hoàn toàn miễn cưỡng. Để mặc ý tôi, thì chả đời nào tôi tìm cách làm quen với ông, và tôi cho rằng ta không hề quen biết nhau. Vậy ông hãy vào thẳng vấn đề đi. Ông cần gì?

– Xin chào hai bạn trẻ của tôi. Tôi cảm nhận, tôi hiểu tất cả, đúng là tất cả, hiểu thấu suốt, tận cùng. Xin hãy bỏ qua cho sự đường đột, nhưng hai bạn hợp nhau dễ sợ. Hai bạn xứng đôi vừa lứa đến mức cao nhất.

– Tôi buộc phải ngắt lời ông. Yêu cầu đừng can thiệp vào những điều chẳng liên quan gì đến ông. Người ta không cầu xin thiện cảm của ông. Ông đang đi quá giới hạn cho phép.

– Còn anh cũng đừng vội nổi nóng như vậy. Không, có lẽ dẫu sao anh cũng giống cha anh hơn. Cũng nóng y như lửa. À mà này, tôi xin phép chúc mừng các người, các con ạ. Rất tiếc, đó không chỉ là cách nói của tôi, mà các người đúng là lũ trẻ con, chả hiểu gì, chả biết lo nghĩ gì hết. Tôi mới đến thành phố vỏn vẹn hai ngày, song đã biết về các người nhiều hơn các người tưởng. Các người không biết các người đang đi trên bờ vực thẳm. Nếu không tìm cách ngăn chặn hiểm nguy, thì những ngày các người được tự do, và có lẽ được sống trên đời, chả còn mấy nữa đâu. Cộng sản họ có một phong cách nào đó. Ít ai thích hợp với cái thước đo ấy. Nhưng chẳng ai dại dột vi phạm phong cách sống và suy nghĩ ấy một cách rõ ràng như anh cả. Tôi không hiểu anh trêu ong chọc rắn để làm gì. Anh là sự giễu cợt và lăng mạ xã hội này. Giá anh giữ kín cái đó đã tốt. Đằng này, ở đây có những nhân vật quyền thế từng ở Moskva. Họ đi guốc vào bụng anh. Cả hai anh chị đều là cái gai trước mắt các vị đại diện công lý ở vùng này. Hai đồng chí Antipop và Tiverzin đang tính cách triệt cả các người. Anh là đàn ông, anh không vướng víu gia đình, hay như dân ta vẫn nói, anh là một thằng cô- dắc tự do. Anh có quyền tha hồ đùa giỡn với sinh mạng của anh, có quyền làm thằng điên thằng khùng tùy ý. Nhưng Lara không được tự do như thế. Cô ấy là một người mẹ. Cô ấy nắm trong tay sinh mệnh, số phận của một đứa con. Cô ấy không được phép mơ mộng hão huyền, sống trên mây. Tôi đã mất trọn buổi sáng để thuyết phục cô ấy có thái độ nghiêm túc hơn trước tình hình ở đây. Cô ấy chẳng chịu nghe tôi Anh hãy dùng uy tín của mình, hãy tác động đến Lara. Cô ấy không có quyền đùa bỡn với sự an toàn của bé Katenka, cô ấy không nên coi thường các ý kiến của tôi.

– Suốt đời tôi chưa bao giờ thuyết phục hay cưỡng ép bất cứ ai. Nhất là đối với những người thân cận. Lara muốn nghe ông hay không là tùy ở nàng, là việc của nàng. Ngoài ra, tôi hoàn toàn chưa biết ông định nói gì. Cái mà ông gọi là ý kiến nó như thế nào.

– Đúng là mỗi lúc anh càng làm cho tôi thấy anh giống cha anh. Cũng khó tính y như thế. Vậy thì ta đi vào vấn đề chính. Nhưng vì đây là vấn đề khá phức tạp, nên mong anh kiên nhẫn cho. Đề nghị anh chịu khó nghe và đừng ngắt lời tôi. Ở cấp cao người ta đang chuẩn bị cho những thay đổi lớn.

Phải, phải, tin này tôi biết từ một nguồn đáng tin cậy nhất, anh khỏi cần nghi ngờ. Họ dự tính chuyển sang đường lối dân chủ hơn, nhượng bộ nền pháp chế phổ thông, và việc đó sẽ được thực hiện trong một tương lai rất gần.

Nhưng chính vì lẽ đó mà những cơ quan đàn áp sắp bãi bỏ sẽ hung dữ hơn và sẽ khẩn trương hơn trong việc thanh toán các vụ việc ở địa phương họ. Đến lượt anh bị thủ tiêu. Tên anh có trong danh sách. Tôi không nói giỡn đâu, chính mắt tôi đã trông thấy, anh có thể tin ở tôi. Anh hãy nghĩ đến chuyện thoát thân, kẻo muộn đấy. Nhưng tất cả những cái đó mới là phần nhập đề. Bây giờ tôi đi vào thực chất vấn đề.

Tại miền duyên hải, ven bờ Thái Bình Dương, người ta đang thu hút các lực lượng chính trị còn trung thành với Chính phủ Lâm thời đã bị lật đổ và Hội nghị Lập hiến đã bị giải tán, tới miền đó. Các nghị viên Viện Duma, các nhà hoạt động xã hội, các đại biểu danh tiếng nhất của các hội đồng tự quản địa phương ngày trước, các nhà công thương gia đang quy tụ ở đấy. Các tướng lãnh chỉ huy quân tình nguyện cũng đang tập hợp các binh đội còn lại của họ ở đó.

Chính quyền Xô viết nhắm mắt làm ngơ trước sự xuất hiện những Cộng hoà Viễn Đông. Sự tồn tại của một thứ quốc gia như thế ở vùng biên giới là có lợi cho họ, với nghĩa nó sẽ làm miếng đệm giữa Sibiri Đỏ và thế giới bên ngoài. Chính phủ nước Cộng hoà Viễn Đông sẽ mang tính chất liên hợp.

Moskva đòi hơn nửa số ghế cho các đại diện cộng sản để khi gặp thời cơ thuận lợi sẽ dựa vào họ làm đảo chính và nắm lấy nước Cộng hoà. Thâm ý của họ rõ như ban ngày, và vấn đề chỉ là ta phải biết tận dụng khoảng thời gian còn lại.

Hồi trước cách mạng, có dạo tôi từng lo liệu công việc cho anh em nhà Ackharov, nhà Merkulov và mấy nhà buôn, một nhà băng khác ở Vladivostok. Ở đó người ta biết tôi. Một đại diện bí mật của Chính phủ đang được thành lập nửa bí mật, nửa với sự dung túng chính thức của Cộng sản, đã đến mời tôi làm Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Viễn Đông. Tôi đã nhận lời và đang trên đường đi tới đó. Tất cả những việc này, như tôi đã nói, xảy ra với sự ưng thuận ngầm, chứ không công khai, của chính quyền Xô viết, bởi vậy chớ có nói toang toang ra.

Tôi có thể đưa anh và Lara đi cùng với tôi. Từ đó, anh có thể dễ dàng đáp tàu thủy sang nước khác đoàn tụ với gia đình anh. Anh đã biết họ bị trục xuất, hẳn thế. Chuyện ầm ĩ, làm xôn xao dư luận cả Moskva. Về phần Lara, tôi đã hứa với cô ấy sẽ gạt mối nguy hiểm đang lơ lửng trên đầu Pasa. Trên tư cách một thành viên của Chính phủ độc lập và được công nhận, tôi sẽ tìm được Strelnikov, tức Pasa, ở miền Đông Sibiri và sẽ giúp anh ta vượt sang vùng tự trị của chúng tôi. Nếu anh ta không trốn sang được, tôi sẽ đề nghị họ đổi anh ta lấy một nhân vật nào đó bị quân đồng minh bắt giữ và có giá trị đối với chính quyền trung ương Moskva.

Lara vất vả theo dõi nội dung câu chuyện, mà nhiều chỗ nàng chưa hiểu ý. Nhưng khi Komarovski đề cập đến sự an toàn của Zhivago và Strelnikov, thì nàng ra khỏi tình trạng trầm ngâm lãnh đạm, nàng dỏng tai nghe, má hây hây đỏ, nàng nói xen vào:
– Yuri yêu quý, anh có hiểu những dự định ấy quan trọng đến mức nào đối với anh và Pasa chưa?

– Em dễ tin người quá, cô bạn của anh. Không nên coi dự định là sự việc đã được thực hiện. Anh không bảo ông Komarovski chủ ý lừa bịp chúng mình. Nhưng tất cả những thứ đó chưa biết sự thể sẽ ra sao! Còn bây giờ, thưa ông Komarovski, tôi có vài lời với ông. Cảm ơn ông quan tâm đến số phận của tôi, nhưng ông tưởng tôi sẽ để ông sắp xếp số phận của tôi ư? Còn về phần ông lo lắng cho Strelnikov, thì đó là phần việc suy nghĩ của Lara.

– Chuyện này dẫn đến đâu, hở anh? Chúng mình có nên đi với ông ấy như ông ấy đề nghị, hay ở lại. Anh thừa biết rằng nếu không có anh, thì em sẽ không đi đâu.

Zhivago có mang một chai rượu cồn từ bệnh viện về và đặt trên bàn. Komarovski cứ luôn tay tự rót rượu, ăn khoai luộc và dần dần say mèm.

Đã đêm khuya. Ngọn lửa nhỏ thỉnh thoảng đã được ngắt tàn mấy lần bùng lên nổ lách tách, soi rõ căn phòng. Sau đó tất cả lại chìm vào bóng tối mờ mờ. Chủ nhà đã buồn ngủ và họ cần nói chuyện riêng với nhau. Song Komarovski vẫn cứ ngồi lỳ ra đó. Sự hiện diện của hắn khiến cho người ta bực bội như cái dáng nặng nề của chiếc tủ đựng bát đĩa bằng gỗ sồi và như cái bóng tối tháng chạp rét mướt ngoài kia.

Hắn nhìn, không phải vào mặt chủ nhà, mà vào chỗ nào đó trên đầu họ, cặp mắt tròn tròn say rượu cứ dán vào một điểm xa xa ấy và, bằng một giọng lè nhè buồn ngủ, hắn cứ lải nhải mãi về cùng một chuyện gì đó hết sức nhạt nhẽo. Đề tài ưa thích của hắn bây giờ là Viễn Đông. Đó chính là điều hắn đang lải nhải, trong khi phát triển các ý kiến của hắn về ý nghĩa chính trị của Mông Cổ, cho Lara và Zhivago nghe.

Song họ không theo dõi từ đầu, nên không rõ hắn nhảy sang đề tài Mông Cổ từ lúc nào, vì thế cái đề tài xa lạ, sau đoạn nhảy cóc ấy, càng trở nên nhạt nhẽo ngán ngẩm.

Komarovski nói:
– Sibiri đúng là Tân Thế giới như người ta gọi, nó chứa đựng trong lòng nó những khả năng vô cùng phong phú. Nó là cái nôi của tương lai Nga vĩ đại, bảo đảm cho công cuộc dân chủ hoá của chúng ta, cho sự phồn vinh và lành mạnh hoá về chính trị. Tương lai của Mông Cổ, của xứ Ngoại Mông, láng giềng vĩ đại của chúng ta ở Viễn Đông, còn có nhiều khả năng hấp dẫn hơn nữa. Các người biết gì về xứ ấy? Các người không biết xấu hổ, khi cứ ngáp dài ngáp ngắn, chả buồn nghe tôi nói hay sao, trong khi xứ sở ấy rộng đến một triệu rưởi dặm vuông, có các loại khoáng sản chưa được khai thác, một xứ sở nguyên sinh như thời tiền sử mà Trung Hoa, Nhật Bản và Mỹ đang thèm rỏ dãi, đang nhúng tay vào đó, làm thiệt hại đến các quyền lợi của nước Nga chúng ta, những quyền ìợi đã được tất cả các nướe cạnh tranh với ta công nhận, mỗi lần chia nhau phạm vi ảnh hưởng ở cái vùng xa xôi ấy của địa cầu. Trung Hoa lợi dụng tình trạng lạc hậu, phong kiến thần quyền của Mông Cổ thông qua việc gây ảnh hưởng với các vị Lama và Khutuc ở Mông Cổ. Nhật Bản thì dựa vào các chủ nô mà tiếng Mông gọi là Khôsun. Nước Nga cộng sản Đỏ thì liên minh với tổ chức Klamgin, hoặc còn gọi là Hiệp hội cách mạng của những người du mục khởi nghĩa Mông Cổ. Về phần tôi, tôi muốn thấy một nước Mông Cổ thực sự thịnh vượng, dưới sự điều hành của một chính phủ được bầu lên một cách tự do. Riêng chúng ta cần quan tâm đến điểm này: chỉ cần bước qua biên giới Mông Cổ là thế giới đã ở dưới chân các người, các người được tự do như chim trời.

Những lời lẽ giả bộ khôn ngoan, chả liên quan gì đến đề tài khiến họ quan tâm ấy đã làm cho Lara khó chịu. Nàng phát cáu về việc ông khách cứ ngồi lỳ ra đó mà lải nhải những điều ngán ngẩm, bèn kiên quyết chìa tay cho Komarovski để từ biệt và đốp thẳng thừng chả cần giấu giếm thái độ ác cảm của mình:
– Khuya quá rồí. Ông nên ra về thôi. Tôi buồn ngủ quá.

– Tôi hy vọng các người chả đến nỗi bất lịch sự tống cổ tôi ra khỏi cửa vào giờ này. Không chắc tôi tìm nổi đường đi giữa một thành phố xa lạ, chẳng có đèn đuốc gì như thế này.

– Ông phải nghĩ đến điều đó sớm hơn mới phải. Có ai giữ ông ngồi lỳ ở đây đâu.

– Ồ sao các người nói năng gay gắt với tôi vậy? Thậm chí các người cũng chả buồn hỏi rằng ở thành phố này tôi có chỗ trú ngụ nào không nữa?

– Chuyện đó hoàn toàn không dính dáng gì đến chúng tôi. Ông mà lại chịu để ai bắt nạt ư. Nếu ông khăng khăng đòi nghỉ đêm ở đây, thì tôi không để ông nằm trong phòng của chúng tôi và bé Katenka đâu. Còn ở các buồng khác, lũ chuột sẽ chẳng để yên cho ông.

– Tôi không sợ chuột.

– Cái đó tùy ông.

– Em làm sao thế, thiên thần của anh? Bao đêm rồi em không ngủ, cũng chả chịu ăn uống gì cả, suốt ngày cứ ngơ ngẩn như người mất hồn. Và lúc nào cũng nghĩ ngợi triền miên. Cái gì ám ảnh em? Không nên lo nghĩ nhiều như thế em ạ?

– Anh chàng Idôt gác cổng bệnh viện lại lai vãng đến đây. Anh ta đang có chuyện tình tự với chị thợ giặt ở dưới nhà. Anh ta mới tạt qua an ủi em, và tiết lộ một bí mật mà anh ta bảo là khủng khiếp. “Ông nhà cô không thoát khỏi cảnh tù tội đâu. Chỉ ngày một ngày hai nữa thôi, người ta sẽ bắt ông ấy. Kế đó sẽ đến lượt cô, tội nghiệp”. “Anh nghe tin đó ở đâu vậy, Idôt?” “Tin chắc chắn đấy cô ơi”, anh ta nói. Tin từ Ban Dưa Hành thành phố lan ra. Chắc anh đoán được Idôt muốn nói Ban chấp hành thành phố, nhưng bị chệch đi!

Cả hai cùng cười.

-Anh ta nói đúng. Sự nguy hiểm đang ở sát nách chúng mình. Phải trốn biệt ngay. Vấn đề chỉ là trốn đi đâu. Không thể tính chuyện bỏ về Moskva được. Việc đó đòi hỏi sự chuẩn bị quá phiền phức, khiến người ta để ý. Phải chuồn thật êm, để không một ai hay biết. Lara ơi, có lẽ ta quay lại ý định ban đầu của em. Ta cần trốn biệt tích một thời gian. Ta hãy đến Varykino độ hai tuần hoặc một tháng.

– Cảm ơn, cảm ơn anh yêu quý. Ôi, em sung sướng quá. Em hiểu toàn bộ tâm tư của anh phải phản đối quyết định ấy như thế nào. Nhưng ta sẽ không nhắc đến nhà cũ của anh. Sống trong ngôi nhà ấy đối với anh quả thực là không chịu nổi, nào là quang cảnh các căn phòng trống vắng, nào là những ý nghĩ tự trách thầm, những so sánh với dĩ vãng. Lẽ nào em không hiểu? Ai nỡ xây dựng hạnh phúc trên nỗi đau khổ của kẻ khác, giày xéo lên những gì người khác coi là thân thiết và thiêng liêng. Chả đời nào em dám nhận ở anh một sự hy sinh như thế. Nhưng vấn đề là điểm khác kia. Nhà cũ của anh bị hư nát đến mức không thể sửa sang để được ở. Em có ý nhắm vào dãy nhà mà gia đình Mikulisyn bỏ lại cơ.

– Tất cả những cái đó là sự thật. Cám ơn sự tế nhị chu đáo của em. Nhưng hượm đã em. Anh định hỏi em điều mà cứ quên hoài. Komarovski hiện ở đâu? Hắn còn ở lại thành phố hay đã đi rồi? Từ sau lần anh cãi nhau với hắn và, tống cổ hắn xuống cầu thang, thì anh không nghe nói gì về hắn nữa.

– Em cũng không biết. Mặc xác hắn. Anh để tâm đến hắn làm gì?

– Anh cứ nghĩ rằng mỗi đứa chúng mình nên có thái độ khác nhau trước đề nghị của hắn. Hoàn cảnh của anh và em không giống nhau. Em còn phải nuôi dạy Katenka. Cho dù em có ý định từ bỏ cõi đời cùng với anh, em cũng không có quyền làm như vậy. Nhưng ta hãy bàn về Varykino. Hiển nhiên, bỏ đến cư ngụ ở cái xó heo hút, hoang tàn ấy giữa mùa đông khắc nghiệt, không lương thực dự phòng, kiệt lực, vô hy vọng, là việc làm hết sức điên rồ. Nhưng em yêu ơi, thì ta cứ điên đi, nếu ta chả còn biết làm gì, ngoài việc nổi điên. Ta đành hạ mình một lần nữa, hỏi mượn Samdeviatov một con ngựa. Và hỏi vay của anh ta, hoặc thậm chí của đám đầu cơ buôn lậu dưới quyền anh ta, một ít bột mì và khoai mà không có gì bảo đảm cả. Ta sẽ thuyết phục anh ta đừng đến đòi ngựa đã cho ta mượn ngay tức thời, mà hãy thư thả; đợi đến lúc nào anh ta không thể thiếu con ngựa. Ta sẽ sống riêng biệt ít lâu. Ta đi thôi, em ạ. Ta sẽ chặt và đốt mỗi tuần một số củi mà người nội trợ đảm đang hơn đủ dùng trong cả năm. Và một lần nữa anh xin lỗi em về sự lúng túng trong lời lẽ của anh. Thực ra anh không muốn nói với em những câu hăng hái ngớ ngẩn này. Nhưng ta quả không còn cách lựa chọn nào khác. Nói gì thì nói, rõ ràng là cái chết đang gõ cửa nhà ta.

Ngày giờ của ta đúng là chẳng còn bao nhiêu. Ta hãy tận dụng những ngày giờ ấy. Ta sẽ tiễn đưa cuộc sống, sẽ gặp nhau lần cuối cùng trước giờ biệt ly. Ta sẽ vĩnh biệt hết thảy những gì thân thiết với ta, vĩnh biệt các quan niệm quen thuộc của ta, vĩnh biệt những gì ta hằng mơ ước được sống và những gì lương tâm dạy ta, vĩnh biệt các hy vọng, vĩnh biệt nhau. Một lần nữa ta sẽ nói với nhau những lời bao la và êm đềm như Thái Bình Dương. Không phải tình cờ mà em có ở đây, cuối cuộc đời anh, thiên thần bí ẩn của anh, dưới bầu trời các cuộc chiến tranh và nổi dậy; em đã từng hiện ra ở đầu cuộc đời anh hệt như thế, dưới bầu trời thanh bình của tuổi thơ. Tối hôm ấy, trong bộ đồng phục nữ sinh trung học màu cà phê, trong bóng tranh tối tranh sáng, sau tầm vách ngăn của căn phòng khách sạn, em hoàn toàn giống như em bây giờ và cũng đẹp mê hồn như thế. Sau này nhiều lần trong đời anh thường thử định nghĩa, đặt tên cho cái ánh sáng quyến rũ mà em đã rọi vào anh hôm ấy, cho cái tia sáng mờ dần và cái âm thanh lắng dịu đã từ buổi hôm ấy thấm vào toàn bộ con người anh, hoà tan trong đó và trở thành chìa khoá mở được hết thảy các cánh cửa trên đời, nhờ có em.

Khi hình bóng em trong bộ đồng phục nữ sinh hiện ra khỏi bóng tối góc phòng, thì anh, một thiếu niên chưa biết gì về em, đã hiểu, bằng toàn bộ sự đau đớn của sức mạnh đáp lại em, rằng cô thiếu nữ mảnh khảnh yếu ớt kia chứa toàn bộ nữ tính của trần gian, như nàng được tích đầy điện. Nếu tới gần nàng hoặc chạm ngón tay vào người nàng, tia lửa điện sẽ phóng ra rọi sáng căn phòng, hoặc sẽ giết người ta chết đứng tại chỗ, hoặc truyền sang nỗí buồn ai oán mà sức hút mạnh mẽ như có từ tính suốt cả cuộc đời. Nước mắt lạc lõng dâng ngập đời anh, toàn bộ hồn anh phát quang và khóc. Anh xót xa vô hạn cho mình, một thiếu niên, và cho em, một thiếu nữ. Toàn thân anh ngạc nhiên tự hỏi: nếu yêu và hấp thụ dòng điện đã đau đớn như thế, thì làm phụ nữ, làm dòng điện, truyền tình yêu chắc còn đau đớn hơn nữa. Đấy cuối cùng thì anh cũng đã nói ra được điều đó. Điều đó có thể làm anh phát điên lên được. Và toàn bộ tình cảm của anh nằm trong đó.

Lara nằm sát mép giường, để nguyên cả xống áo, vẻ mệt mỏi. Nàng nằm co người và dùng tấm khăn vuông đắp lên mình. Zhivago ngồi trên một cái ghế ở bên cạnh, nói khe khẽ, với những quãng nghỉ lâu lâu. Đôi lúc Lara chống khuỷu tay nhổm dậy, tựa cằm trên một bàn tay, hé miệng nhìn Zhivago.

Có lúc nàng nép đầu vào vai chàng, lặng lẽ khóc vì sung sướng mà không biết rằng mình đang khóc. Cuối cùng, nàng vươn người về phía chàng, ôm lấy chàng và thì thầm sung sướng:
– Yuri! Yuri yêu dấu? Anh thông minh quá. Anh biết hết, anh đoán được hết. Yuri yêu quý, anh là thành luỹ của em, là nơi nương thân, là sự khẳng định của em. Xin Chúa tha cho em tội phạm thượng. Ôi, em hạnh phúc xiết bao? Ta hãy ra đi, ra đi thôi, anh yêu. Đến đấy, em sẽ nói cho anh biết điều em đang lo nghĩ.

Chàng cho rằng nàng nói bóng gió đến chuyện có thai, là điều do nàng tưởng tượng, nên chàng đáp:
Anh biết.

Họ rời thành phố vào một buổi sáng mùa đông u ám. Một ngày bình thường. Trên các đường phố, người ta đi làm công việc của mình. Zhivago và Lara chạm mặt nhiều người quen. Ở các ngã ba ngã tư gồ ghề, cạnh các máy nước công cộng cũ kỹ, những người đàn bà nhà không có giếng đang đứng nối đuôi nhau chờ đến lượt lấy nước, thùng và đòn gánh để trên mặt đất bên cạnh họ. Zhivago gò con ngựa Savrasea mượn của Samdeviatov, một con ngựa giống Viatea 1, lông quăn màu vàng như khói, chàng điều khiển ngựa, cẩn thận vòng tránh các đám đông những bà nội trợ. Chiếc xe đang đà lao nhanh, thỉnh thoảng lại trượt khỏi mặt đường hình mu rùa có các vũng nước đóng băng, leo lên vỉa hè, thành xe va cả vào các trụ đèn và các cột mốc.

Giữa lúc phóng nhanh như bay, họ vượt qua trước mặt Samdeviatov đang đi bộ dưới phố, họ không ngoảnh lại xem ông ta có nhận ra họ và con ngựa của ông ta hay không, hoặc có nói với theo câu gì hay không. Ở một chỗ khác, họ lướt qua mặt Komarovski cũng theo kiểu như thế và tự nhủ rằng như vậy là hắn vẫn còn ở Yuratin.

Từ vỉa hè bên kia, Galina lớn tiếng nói qua đường:
– Thế mà người ta bảo các bạn đi từ hôm qua rồi. Như vậy còn tin họ làm sao được nữa. Đi kiếm khoai phải không?

– Chị ta giơ tay làm hiệu không nghe thấy câu trả lời, rồi vẫy vẫy theo để từ biệt.

Họ cố kìm xe lại khi trông thấy Seraphima. Nhưng họ đang ở trên một ngọn gò, một chỗ bất tiện, rất khó dừng xe lại.

Con ngựa thì phi nhanh, cứ luôn luôn phải kéo căng dây cương để gò bớt nó lại. Seraphima trùm từ đầu xuống chân đến hai, ba chiếc khăn, khiến thân hình chị ta thẳng đuỗn như một khúc gỗ tròn. Bằng những bước đi cứng nhắc, thẳng chân, chị ta tới gần chiếc xe ở giữa mặt đường để từ giã và chúc họ thượng lộ bình an.

– Bác sĩ Zhivago, bao giờ hai bạn trở về đây, chúng ta sẽ có chuyện để nói đấy.

Cuối cùng, họ ra khỏi thành phố. Tuy Zhivago từng đi nhiều lần trên con đường này vào mùa đông, nhưng chàng chủ yếu nhớ dáng vẻ mùa hè của nó, nên bây giờ không nhận ra nó.

Các bao thực phẩm và số hành lý khác đã được họ nhét sâu xuống lớp cỏ khô ở đầu xe và được chằng buộc chắc chắn.

Zhivago điều khiển xe, lúc thì quỳ xuống sàn xe không mui, lúc thì ngồi trên thành xe, buông thõng đôi chân đi ủng dạ mượn của Samdeviatov ra phía ngoài.

Xế chiều, khi ánh sáng mờ ảo của mùa đông khiến người ta lầm tưởng rằng ngày sắp tàn, mặc dù còn lâu mặt trời mới lặn. Zhivago bắt đầu ra roi quất con ngựa Savraska không chút thương hại. Con ngựa phóng đi như một mũi tên. Lòng xe cứ dập dềnh lên xuống khi gặp chỗ mấp mô trên đường, y như con thuyền gặp cơn giông tố. Lara và Katenka đều mặc áo lông nên khó cựa quậy. Những lúc xe bị nghiêng hoặc vấp ổ gà, hai mẹ con lại kêu rú lên, cười như nắc nẻ vì bị lăn từ thành xe bên này sang một bên, hất hai mẹ con Lara xuống đống tuyết mà không hại gì cho họ. Bản thân chàng nắm chặt dây cương để bị kéo lê trên mặt đường một đoạn, rồi mới ghìm cho Savraska lại đứng dậy, dựng cái xe hẳn hoi như cũ, nhận những lời trách móc kịch liệt của hai mẹ con Lara lúc ấy đang rũ tuyết, leo lên xe, cười ngất và làm mặt giận.

– Anh sẽ chỉ cho hai mẹ con em chỗ anb bị du kích chặn bắt. – Zhivago hứa khi họ đã đi khá xa thành phố, nhưng chàng không thể thực hiện được lời hứa, vì cảnh trơ trụi của khu rừng mùa đông, sự im lìm chết chóc và trống trải bốn phía đã thay đổi khung cảnh tới mức không thể nhận ra. – Kia rồi! – Lát sau chàng kêu lên, vì tưởng lầm cái bảng quảng cáo “Moro và Vetchinkin” thứ nhất, đứng ở giữa cánh đồng, là cái bảng thứ hai ở trong rừng, nơi chàng bị chặn bắt. Khi họ phóng ngang qua cái bảng thứ hai, vẫn ở chỗ cũ, ven cánh rừng rậm, cạnh ngã ba đường đi Samka, thì chàng không nhận ra nó qua tấm lưới băng giá dày đặc, lấp loáng loá mắt, khiến khu rừng như một chiếc mành có hai màu, bạc và đen.

Xe lao như bay vào khu trại Varykino lúc trời còn sáng và dừng lại cạnh ngôi nhà cũ của Zhivago, vì đây là ngôi nhà đầu tiên trên đường, gần hơn dãy nhà của Mikulisyn. Họ lao vào nhà vội vã như kẻ cướp, vì trời sắp tối. Trong nhà cũng đã tối.

Trong lúc vội vã, Zhivago không nhận thấy một nửa khung cảnh đổ nát và rác rưởi bẩn thỉu. Một phần đồ đạc quen thuộc vẫn còn nguyên. Varykino hoang vắng, chả còn ai để tàn phá nốt những gì còn sót lại. Zhivago không tìm được tài sản gì của gia đình. Chàng đâu có mặt lúc gia đình rút lui, nên không thể biết họ đã mang theo hoặc để lại thứ gì. Lúc ấy Lara giục:
– Phải nhanh lên, đêm sắp xuống rồi anh ạ. Không còn thời gian để suy nghĩ nữa. Nếu định ở đây thì phải cho ngựa vào gian kho, mang thực phẩm vào phòng ngoài, còn chúng mình thì vào buồng này. Nhưng em phản đối giải pháp này. Chúng mình đã bàn đẩy đủ về chuyện này rồi. Sẽ không thoải mái cho anh, nghĩa là cho cả em nữa. Chỗ này là gì phòng ngủ cũ của anh chăng? Không phải, đây là phòng của trẻ con. Có cái giường nhỏ của con trai anh.

Không vừa cho Katenka. Được cái là các cửa sổ còn nguyên, tường và trần chưa bị nứt nẻ. Ngoài ra, còn thêm cái lò sưởi tuyệt vời, lần trước ở đây, em rất mê nó. Nên nếu ạnh khăng khăng ở lại đây, mặc dù em không muốn thế, thì em sẽ cởi áo lông ra và bắt tay dọn dẹp ngay. Việc trước tiên là phải đốt lò. Đốt lò, đốt lò, đốt lò. Lò phải nóng âm ỉ suốt ngày đêm. Nhưng anh làm sao vậy, anh yêu. Sao anh không trả lời gì cả.

– Không sao. Xong rồi. Xin lỗi em. Không có gì, à em này, đúng là ta nên đến xem nhà của Mikulisyn thì hơn.
Thế là họ đi tiếp.

Nhà của gia đình Mikulisyn được khoá bằng một ổ khoá treo, móc vào chốt cửa. Zhivago tốn nhiều thì giờ lay giật khoá và cuối cùng đã giật tung nó ra cùng hai cái đinh khuy và một mảnh gỗ. Ở nhà này cũng vậy, họ vội vã xộc vào trong, đi sâu vào các phòng, không kịp cởi áo lông, bỏ mũ và tháo ủng.

Điều đập ngay vào mắt họ là vẻ trật tự ngăn nắp của các vật dụng ở một vài chỗ trong nhà, chẳng hạn trong phòng làm việc của Mikulisyn. Có người mới sống ở đây, vừa mới đây thôi.

Nhưng người ấy là ai nhỉ? Nếu đó là vợ chồng Mikulisyn hoặc một người trong số họ, thì họ lánh đi đâu và tại sao cửa ngoài lại không dùng ổ khoá ngầm, mà lại dùng khoá treo? Hơn nữa, nếu đó là chủ nhà và họ ở đây thường xuyên, lâu lâu, thì toàn bộ dãy nhà được dọn dẹp ngăn nắp, chứ không chỉ một vài chỗ như thế này. Có một cái gì mách với hai người vào trộm nhà, rằng đó không phải là người của gia đình Meculisyn. Trong trường hợp ấy, kẻ đó là ai. Zhivago và Lara chả lo ngại về điều bí ẩn ấy. Chả hơi đâu nhức đầu nhức óc tìm hiểu điều ấy. Thời này thiếu gì các ngôi nhà bị bỏ hoang, đồ đạc bị cuỗm đi đến già quá nửa. Thiếu gì người bị truy nã, phải tìm trốn lẩn tránh?

Cả hai quả quyết với nhau: “Chắc đây là một sĩ quan bạch vệ nào đó bị truy nã. Nếu hắn tới, ta sẽ thu xếp sống chung yên ổn với hắn”.

Và một lần nữa, cũng như ngay trước, Zhivago đứng sững trên ngưỡng cửa phòng làm việc, ngắm cái lòng rộng thênh thang của căn phòng, ngạc nhiên trước cái bàn giấy rộng và tiện lợi kê cạnh cửa sổ. Một lần nữa, chàng lại tự nhủ, rằng một tiện nghi chính đáng như vậy sẽ gợi ý và chắc chắn sẽ khích lệ người ta làm việc một cách kiên trì, hữu hiệu.

Trong số các căn nhà phụ ở ngoài sân, có một chuồng ngựa xây sát vách gian kho. Nhưng chuồng ngựa bị đóng chốt kỹ nên Zhivago chưa biết nó ở trong tình trạng nào. Để khỏi tốn thời gian, chàng quyết định đêm đầu tiên hãy cứ buộc con ngựa trong gian kho không có khoá, dễ dàng đóng mở cửa.

Chàng tháo ngựa ra khỏi xe, và lúc nó đã ráo mồ hôi, chàng cho nó uống nước mà chàng vừa kéo lên từ dưới giếng lên.

Zhivago định lấy cỏ khô ở sàn xe cho ngựa ăn, nhưng dưới sức nặng của ba hành khách, cỏ đã bị nghiền nát thành từng cọng vụn, không cho ngựa ăn được nữa. May thay, trên cái gác rộng ở trên gian kho ở các góc và chuồng ngựa, chàng thấy có đủ cỏ khô ở các góc và ven chân tường.

Họ để nguyên xống áo nằm xuống, dùng áo lông đắp người, ngủ một giấc say sưa, ngon lành, thoải mái như những đứa trẻ sau cả một ngày chạy nhảy, nô đùa.

Sáng hôm sau, từ lúc họ trở dậy, Zhivago cứ chốc chốc lại ngó về phía cái bàn đầy sức quyến rũ kê cạnh cửa sổ. Tay chàng ngứa ngáy, chàng chỉ muốn ngồi viết. Nhưng chàng để dành cái quyền ấy cho mình đến buổi tối, khi hai mẹ con Lara đã đi ngủ. Còn từ giờ đến lúc ấy, phải dọn dẹp ít nhất hai căn phòng cho tử tế, có khối việc cần làm.

Khi mơ ước đến các buổi làm việc ban đêm, chàng không tự đặt ra những mục đích quan trọng. Chẳng qua là chàng thích cầm bút viết lách vậy thôi.

Chàng muốn nghệch ngoạc vài dòng. Những buổi đầu, chàng chỉ cần nhớ lại và ghi chép một số bài cũ mà chàng chưa viết ra giấy, để đánh thức những năng khiếu trì trệ và có phần tê liệt vì không hoạt động bấy lâu nay. Sau đó, chàng hy vọng, nếu chàng và Lara được ở đây lâu hơn và có đủ thời gian, chàng sẽ bắt tay viết một cái gì mới mẻ và quan trọng.

– Anh ơi? Anh có bận không? Anh đang làm gì thế?

– Anh đang đốt lò sưởi. Sao cơ?

– Em cần một cái chậu.

– Nếu cứ đốt lò theo kiểu này, thì không đủ củi cho ba ngày, em ạ. Phải sang xem lại gian kho cũ của nhà anh, xem đằng ấy còn củi không? Nếu còn kha khá, anh sẽ chở vài chuyến về đây. Anh sẽ lo việc ấy ngày mai. Em cần một cái chậu. Quái lạ, anh đã thấy nó ở đâu rồi thì phải, nhưng bây giờ không tài nào nhớ ra nổi.

– Em cũng vậy. Em cũng thoáng thấy nó ở đâu rồi, nhưng quên biến đi mất. Chắc không phải chỗ để của nó, nên mới để quên như thế. Thôi, kệ nó. Anh ơi, em đun nhiều nước để làm vệ sinh nhà cửa. Phần còn lại, em sẽ giặt quần áo của em và Katenka. Tiện thể, anh quẳng tất cả số quần áo dơ của anh ra đây. Tối nay, khi ta dọn dẹp xong xuôi và trù tính rõ những việc cần làm trong vài ngày tới, cả nhà sẽ tắm rửa trước khi đi ngủ.

– Để anh thu dọn quần áo dơ. Cám ơn em. Các tủ đứng và những thứ đồ đạc nặng, anh đã kéo ra xa tường như em yêu cầu.

– Hay lắm. Không có chậu giặt, em sẽ giũ quần áo trong chậu rửa bát vậy. Chỉ tội nó nhờn quá. Phải cọ thành chậu hết mỡ đã.

– Lúc chiều lò cháy đều, anh sẽ đậy nắp lò và trở lại thu dọn các ngăn kéo còn lại. Ngăn kéo nào cũng tìm được vật dụng mới lạ. Xà bông, diêm, bút chì, giấy mực, dụng cụ văn phòng: Và ở những chỗ sờ sờ trước mắt cũng có khối đồ vật bất ngờ như thế. Chẳng hạn có cái đèn đổ đầy dầu hoả trên bàn.

Những thứ ấy không phải của gia đình Mikulisyn. Anh biết là chúng được đưa từ nơi khác đến.

– Thực là một sự may mắn lạ lùng? Chắc của kẻ ẩn cư bí mật kia thôi. Y như trong chuyện của June Verne vậy. Thôi chết, em tệ quá? Cứ đứng tán hươu tán vượn, trong khi thùng nước sôi tràn cả ra.

Hai người tất tả chạy đi chạy lại trong các phòng, tay xách nách mang, chốc chốc lại va vào nhau hoặc đụng phải Katenka đang đứng loay hoay giữa lối đi hay luẩn quẩn dưới chân họ. Con bé cứ loanh quanh hết góc này đến góc khác, cản trở việc thu dọn của người lớn và hờn dỗi khi bị la mắng. Nó run rẩy và xuýt xoa vì lạnh.
“Tội nghiệp cho bọn trẻ con ngày nay, những nạn nhân của lối sống lang thang nay đây mai đó như dân Digan, những bạn đồng hành nhẫn nhục trong cuộc đày đoạ của người lớn”.

Zhivago nghĩ thầm, song chàng chỉ bảo con bé:
– Xin lỗi cháu, bé ngoan của bác. Chả có gì, phải co ro xuýt xoa như vậy. Chỉ giỏi giả vờ và làm bộ làm tịch. Lò sưởi đỏ rực thế kia cơ mà.

– Lò sưởi có thể ấm, nhưng cháu rét.

– Vậy thì cháu chịu khó chờ vậy. Tối nay, bác sẽ đốt lò một lần nữa, thật nóng, nóng toát mồ hôi ra ấy, hơn nữa, mẹ bảo sẽ tắm cho cháu nữa kia, cháu nghe thấy chứ? Còn bây giờ thì này, cháu bắt lấy nhé?
Zhivago đổ thành đống trên sàn những đồ chơi của Liveri lấy từ trong gian kho lạnh giá ra, cái còn nguyên vẹn, cái thì bẻ gãy, những viên gạch nhỏ xíu, những khối hộp, những toa tàu và đầu máy xe lửa, những mẩu các- tông có đánh số, vẽ hình trong từng ô vuông để chơi cờ.

Katenka tự ái như một người lớn:
– Sao bác làm thế, bác Yuri? Tất cả những cái này không phải của cháu. Với lại, đấy là đồ chơi cho con nít. Còn cháu, cháu lớn rồi.

Nói thế, nhưng lát sau nó đã ngồi chiễm chệ giữa tấm thảm, và trong tay nó các đồ chơi đủ loại đều biến thành vật liệu xây dựng để nó cất cho con búp bê Nina mang từ thành phố đến đây một cái nhà còn vững vàng và có lý hơn cả nơi trú ẩn tạm bợ và xa lạ mà người ta lôi nó tới.

Đúng là cái bản năng tề gia nội trợ, cái niềm say mê bất diệt đối với tổ ấm và sự ngăn nắp? – Lara từ trong bếp quan sát trò chơi của Katenka và nhận xét – Trẻ con thẳng thắn, không hề e ngại và hổ thẹn trước sự thật, còn người lớn chúng ta vì sợ tỏ ra lạc hậu, nên sẵn sàng bán rẻ cái quý nhất, cứ khen ngợi những điều đáng ghét và phụ hoạ theo những cái khó hiểu.

– Thấy cái chậu rồi, – Zhivago từ phòng ngoài tối om xách cái chậu vào, ngắt lời Lara. – Đúng là nó không ở chỗ của nó.

Nó lăn lóc ở dưới sàn, chỗ trần bị dột, chắc từ hồi mùa thu.

Bữa ăn trưa, được nấu luôn cho ba ngày, bằng số thực phẩm họ mang theo vừa bắt đầu dùng đến. Lara dọn ra những món chưa từng thấy, súp khoai và thịt cừu chiên với khoai.

Katenka ngon miệng và cứ ăn tì tì, vừa ăn vừa cười đùa, sau đó no nê và mệt nhoài vì hơi ấm, nó trùm tấm khăn của mẹ mà ngủ say sưa trên đi- văng.

Lara vừa xong chuyện bếp núc, nàng mệt mỏi, toát mồ hôi và cũng buồn ngủ díp mắt như con gái, hài lòng vì ấn tượng do bữa ăn mà nàng vất vả chuẩn bị đã đem lại, nàng không vội thu dọn bát đĩa. Nàng ngồi ghé xuống nghỉ một lát. Biết chắc bé Katenka đã ngủ, nàng tì ngực vào bàn, tựa cằm vào bàn tay, nói:
– Em không tiếc sức lực và sẽ tìm thấy hạnh phúc ở đó, chỉ cần biết rằng việc ấy không uổng công quá, mà dẫn tới một mục đích nhất định. Anh phải luôn luôn nhắc nhở em rằng chúng mình đến đây là để được ở bên nhau. Anh hãy khích lệ em và đừng để em nghĩ lại. Bởi vì, nghiêm túc mà nói, nếu tỉnh táo nhìn nhận, thì chúng mình đang làm gì vậy, điều gì đang xảy đến với chúng mình? Đột nhập vào nhà người khác, phá cửa mà vào ở và cứ luôn luôn tất tả vội vã để khỏi thấy rằng nó không phải là cuộc sống thật, mà chỉ là dàn dựng một vở kịch, không phải việc làm nghiêm túc, mà chỉ là “giả vờ” như trẻ con vẫn nói, một vở kịch rối, làm trò vui cho thiên hạ.

– Nhưng thiên thần của anh ơi, chính em đã nằn nì đòi đến đây kia mà. Em thử nhớ lại đi, có phải anh đã phản đối mãi việc này hay không nào.

– Đúng thế. Em không dám cãi. Nhưng như thế này là em có lỗi. Anh, anh có thể lưỡng lự, cân nhắc đắn đo, còn đối với em, thì tất cả đều phải nhất quán và hợp lý. Ta đã vào nhà cũ của anh, anh đã nhìn thấy giường của con anh, và anh đã đau đớn, suýt nữa thì ngã xuống đất ngất đi. Anh có quyền làm như vậy, còn em không được phép để như thế, nỗi lo lắng cho Katenka, các ý nghĩ về tương lai phải lùi bước trước tình yêu của em đối với anh.

– Lara yêu dấu, thiên thẩn của anh, bình tĩnh lại nào. Nghĩ lại, từ bỏ quyết định là việc làm không bao giờ muộn cả. Anh chẳng đã khuyên em nên có thái độ nghiêm túc hơn trước lời đề nghị của Komarovski đó sao. Ta có ngựa kia. Nếu em muốn, ngày mai ta sẽ phóng về Yuratin. Komarovski chưa đi khỏi thành phố. Chúng mình ngồi trên xe đã nhìn thấy hắn đi dưới đường, mà hắn thì theo anh nghĩ, hắn không trông thấy chúng ta. Ta sẽ kiếm được hắn thôi.

– Em hầu như chưa nói gì, mà trong giọng nói của anh đã có vẻ khó chịu rồi. Nhưng anh thử nói xem, em không có lý hay sao? Trốn tránh theo kiểu hú hoạ, ít chắc chắn như thế này, thì ta có thể thực hiện ở ngay Yuratin, còn nếu đã định tìm cách cứu mình, thì phải suy tính kỹ lưỡng, theo một kế hoạch chu đáo, suy cho cùng, giống như đề nghị của Komarovski, một kẻ tuy đáng ghê tởm thật đấy, nhưng thông thạo và tỉnh táo. Chính ở đây em chưa biết ra sao, nhưng lại kề bên nguy hiểm hơn ở bất cứ một nơi nào khác. Một chốn đồng không mông quạnh, trống trải tứ bề. Mà ta thì hoàn toàn đơn độc. Rủi ban đêm có bị bão tuyết vùi lấp, thì sáng ra không tự đào bới mà chui thoát được. Hoặc giả cái vị khách bí mật vẫn ở ngôi nhà này đột nhiên trở về, lại là một tên cướp và hắn sẽ cắt cổ chúng mình.

Anh có lấy một thứ vũ khí nào không đã? Không có, anh thấy chưa. Em thấy sợ cái tính vô tư mà anh đang truyền sang em. Nó đang khiến em lo nghĩ lung tung cả lên.

– Nhưng nếu vậy thì em muốn gì? Em ra lệnh cho anh phải làm gì nào?

– Chính em cũng chưa biết trả lời anh ra sao? Anh hãy luôn luôn bắt em phải vâng lời anh. Hãy thường xuyên nhắc nhở em, rằng em là nô lệ của anh, yêu anh mù quáng và không phải lý luận gì hết. ồ, em nói với anh điều này nhé. Những người thân của chúng ta, của anh và của em, tốt đẹp hơn chúng ta cả ngàn lần. Nhưng phải chăng vấn đề là ở đó? Tặng phẩm tình yêu cũng như bất kỳ tặng phẩm nào khác. Nó có thể rất lớn lao, nhưng nó sẽ không thể hiện ra nếu thiếu sự ban phúc. Hai đứa mình đúng là đã được dạy cách hôn nhau ở trên trời, rồi sau đó được phái xuống trần gian từ tuổi thơ ấu để sống cùng thời với nhau, để thử thách và kiểm tra cái tặng phẩm tình yêu kia. Một thứ hào quang chung sống, không phương diện, không mức độ cao thấp, một thứ ngang giá trị hoàn toàn, tất cả đều đem lại niềm vui, tất cả đều hoá thành tâm hồn. Nhưng trong sự âu yếm hoang dại luôn rình rập từng phút ấy có một cái gì đó ngỗ ngược theo kiểu trẻ con, bị cấm đoán. Đó là một thứ bản năng tự phát có sức phá hoại, đối lập với sự bình yên trong gia đình. Bổn phận của em là phải biết sợ nó và không được tin cậy nó.

Nàng vòng tay ôm lấy cổ chàng và cố cầm nước mắt, nói:
– Anh hiểu không, hai đứa mình hoàn cảnh khác nhau. Anh được chắp cánh để bay lên chín tầng mây, còn em là phận gái, em phải sà xuổng đất mà dùng đôi cánh che chở cho con chim non thoát nạn.

Zhivago thích vô cùng tất cả những điều nàng vừa nói, nhưng chàng không tỏ lộ ra, để khỏi sa vào trạng thái quá đa sầu đa cảm. Chàng nén xúc động, nhận xét:
– Tính chất tạm bợ của nơi ta ở quả thực là căng thẳng và giả tạo. Em hoàn toàn có lý. Nhưng nó không phải do ta nghĩ ra. Lang thang trôi giạt điên rồ là số phận của hết thảy mọi người, nó nằm trong tinh thần của thời đại này.

Chính anh từ sáng đến giờ cũng luôn suy nghĩ những điều gần như em nói. Anh muốn gắng sức làm mọi việc để được ở đây lâu hơn. Khó có thể nói anh thèm khát làm việc như thế nào. Anh không muốn nói đến việc làm vườn. Trước kia, có dạo cả nhà anh đã dồn sức vào việc ấy và đã thu được kết quả.

Nhưng anh không đủ sức lặp lại một lần nữa. Anh nghĩ đến việc khác kia.

Cuộc sống khắp nơi đang dần dần ổn định. Có lẽ một ngày nào đó người ta sẽ lại in sách.

– Anh tính thế này em ạ. Liệu ta có thể thương lượng với Samdeviatov, trên những điều kiện có lợi cho anh ta, để anh ta nuôi gia đình chúng mình trong nửa năm, được chăng? Với bảo đảm là trong thời gian ấy, anh sẽ trao cho Samdeviatov một tác phẩm, một tài liệu hướng dẫn về y học, hoặc một cuốn truyện, một tập thơ chẳng hạn. Hoặc giả anh sẽ dịch xong một tác phẩm nổi tiếng nào đó của thế giới sang tiếng Nga. Anh thông thạo nhiều ngoại ngữ, cách đây ít lâu anh có đọc lời thông báo của một nhà xuất bản lớn ở Petersburg chuyên ấn hành các dịch phẩm.

Những việc như thế chắc có giá trị tương đương với tiền bạc. Anh sẽ rất sung sướng được làm một công việc thuộc loại đó.

– Cám ơn anh đã nhắc em. Em cũng đã nghĩ thế hôm nay. Nhưng em không tin rằng chúng mình sẽ ở đây lâu. Em dự cảm rằng chẳng mấy chốc ta lại bị đày đi xa hơn. Nhưng chừng nào ta còn tạm ở chốn này, em xin đề nghị với anh một điều. Anh hãy hy sinh cho em vài giờ trong vài đêm tới, anh hãy ghi lại tất cả những gì anh đã đọc thuộc lòng cho em nghe vào những thời gian khác nhau. Một nửa những bài thơ ấy đã mất mát, nửa kia chưa được ghi lại, nên em e rằng sau này anh sẽ quên hết và sẽ mất hẳn đi, như anh nói, là điều vẫn hay xảy ra với anh.

Đến cuối ngày, cả nhà đã tắm rửa thoải mái bằng sô nước nóng thừa lại sau khi giặt giũ. Lara tắm cho Katenka. Zhivago ngồi bên chiếc bàn kê cạnh cửa sổ với cảm giác sạch sẽ, nhẹ nhõm, chàng quay lưng về phía căn phòng, nơi Lara đang cho Katenka đi ngủ và xếp dọn giường nằm. Nàng thơm tho trong chiếc áo choàng tắm, mái tóc ướt được quấn một tấm khăn bông xốp. Zhivago chìm vào cái dự cảm của sự tập trung tư tưởng cao độ, chàng tri giác mọi điều đang diễn ra qua tấm màn, chú tâm, một sự chú tâm đê mê và có sức khái quát lớn.

Đã một giờ sáng. Lara cho đến lúc ấy chỉ giả vờ ngủ, đã thiếp đi thật sự. Các bộ đồ mới thay, trên người nàng, trên người Katenka, trên giường, đều rạng rỡ, sạch bong, được ủi tử tế, có đường ren xung quanh. Những năm ấy, chả rõ bằng cách nào, Lara vẫn lo được việc hồ cứng quần áo.

Khung cảnh yên tĩnh tuyệt vời, tràn trề hạnh phúc, toát ra hơi thở ngọt ngào của đời sống, đang bao quanh chàng. Ánh đèn màu vàng dịu toả xuống các trang giấy trắng và đọng thành vệt vàng chập chờn trên mặt mực trong bình. Ngoài trời là đêm đông băng giá xanh xanh. Zhivago bước sang căn phòng tối và lạnh ở bên cạnh phòng làm việc, chàng nhìn qua cửa sổ để ngắm bóng đêm rõ hơn. Trăng tròn toả sáng. Ánh trăng đọng trên bãi trống đầy tuyết phủ như chất nhờn của lòng trắng trứng hoặc như một thứ sơn trắng pha keo. Vẻ lộng lẫy của đêm đông băng giá thật là khó tả. Tâm hồn Zhivago hết sức thanh thản. Chàng trở lại phòng làm việc ấm áp, sáng ánh đèn và bắt đầu viết.

Bằng nét chữ thanh thoát, với chủ ý sao cho hình thức chữ viết thể hiện sự vận động sôi nổi của bàn tay và không đánh mất tinh thần cùng sức mạnh của lời văn, chàng nhớ lại và chép ra những gì mình nhớ kỹ nhất, những bài thơ đã được chàng tu sửa dần dần, xa rời những nguyên tắc, ban đầu, bài “Ngôi sao giáng sinh”, “Đêm đông” và khá nhiều bài thơ khác cùng loại, mà sau này bị quên lãng, bị thất lạc và không ai tìm lại được. Kế đó, từ những bài cũ đã được hoàn tất xong xuôi, chàng chuyển sang những bài chàng đã bắt đầu sáng tác nhưng bị bỏ dở giữa chừng, bây giờ chàng nhập vào cung điệu của chúng và phác thảo phần tiếp theo, tuy không hy vọng chút nào rằng sẽ hoàn thành trong đêm nay. Sau đó, quá say sưa, chàng chuyển hẳn sang làm bài mới.

Sau hai, ba khổ thơ trôi chảy dễ dàng và vài lối so sánh mà chính chàng cũng lấy làm ngạc nhiên, công việc bắt đầu cuốn hút chàng và chàng cảm thấy cái được mệnh danh là cảm hứng đang đến gần. Tương quan giữa những sức mạnh chi phối sáng tạo nghệ thuật dường như bị đảo lộn. Cái chiếm ưu thế không phải là con người và trạng thái tâm hồn anh ta mà nghệ sĩ đang tìm cách diễn tả. Mà là ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ nghệ sĩ muốn dùng để diễn tả con người. Ngôn ngữ, – quê hương và kho chứa cái đẹp và ý nghĩa, – tự nó bắt đầu suy nghĩ và nói thay con người, hoàn toàn biến thành âm nhạc, không phải về mặt âm hưởng thính giác bên ngoài, mà về mặt tốc độ cuồn cuộn và mãnh liệt của mạch nguồn bên trong. Khi ấy, giống như khối nước chảy băng băng của dòng sông xoáy mòn các tảng đá dưới đáy và làm quay bánh xe cối xay nước bằng chính sức vận hành của nó, ngàn triệu lời nói đang tuôn trào, một cách tự nó và nhờ sức mạnh các luật lệ của nó, sẽ tạo ra trên đường và dọc đường nó đi qua, nào niêm luật, nào vần điệu, nào hàng ngàn hình thức và cấu tạo khác còn quan trọng hơn nữa, song cho tới nay vẫn chưa được nhận biết, chưa được tính đến và chưa được đặt tên.

Trong những phút ấy, Zhivago cảm thấy phần chính yếu của công việc được thực hiện không phải bởi chàng, mà bởi một sức mạnh cao hơn chàng, ở trên chàng và điều khiển chàng, cụ thể là tình hình tư tưởng và thi ca trên thế giới và cái mà thi ca được hưởng trong tương lai, cái bước tiếp sau mà nó sẽ phải thực hiện trong sự phát triển lịch sử của nó. Và chàng cảm thấy mình chỉ là một nguyên cớ và một điểm tựa để thi ca bước vào sự vận động đó.

Chàng được giải thoát khỏi những điều tự trách mình; cảm giác không hài lòng về bản thân, cảm giác mình quá tầm thường nhỏ nhặt đã tạm thời mất đi. Chàng ngẩng lên nhìn xung quanh.

Chàng nhìn lên mái đầu của Lara và Katenka trên những chiếc gối trắng như tuyết. Sự sạch sẽ của áo quần, sự sạch sẽ của các căn phòng, sự thanh khiết của các đường nét hoà lẫn với sự thanh khiết của đêm, của tuyết, của các vì sao và mặt trăng thành một làn sóng có ý nghĩa ngang nhau, tràn qua tim chàng, khiến chàng hoan hỉ và phát khóc vì cảm nhận sự thanh khiết huy hoàng của cuộc sống.

“Chúa ơi? Chúa ơi” – chàng như muốn thốt lên. – “Tất cả những điều đó đã dành cho tôi sao? Tại sao Người ban cho tôi nhiều vậy? Tại sao Người cho tôi đến gần Người như vậy? Vì lẽ gì Người cho phép tôi được sống dưới trần thế vô giá này của Người, dưới các ngôi sao của Người, dưới chân nàng thiếu phụ liều lĩnh, nhẫn nhục, rủi ro, kiều diễm kia?”.

Đã ba giờ sáng. Zhivago rời mắt khỏi bàn viết và các trang giấy. Từ trạng thái tập trung tư tưởng cao độ, chàng trở về với thực tại, với chính mình, sung sướng, khỏe khoắn và bình thản. Đột nhiên, giữa cảnh im ắng của không gian bao la ngoài kia, chàng chợt nghe vang lên một âm thanh não nề, u buồn.

Chàng bước sang căn phòng không đèn bên cạnh để nhìn qua cửa sổ. Trong mấy tiếng đồng hồ chàng mê mải ngồi viết, các khuôn kính đã bị phủ một lớp băng giá dày, nên không thể nhìn thấy gì qua đó. Zhivago kéo tấm thảm đã được cuộn tròn và chắn gió bên dưới cửa trước sang một bên, khoác áo lông lên vai và bước ra thềm.

Tuyết trải trắng phau phau dưới ánh trăng khiến chàng chói loá mắt. Thoạt tiên, chàng không thể chăm chú nhìn và thấy bất cứ vật gì. Nhưng một lát sau, chàng nghe rõ tiếng hú não nùng rên rỉ từ phía xa xa vọng tới, rồi chàng nhận ra ở mép cánh rừng thưa bên kia khe núi có bốn cái bóng đen duỗi dài, kích thước không lớn hơn một vạch chì nhỏ.

Bốn con sói đứng sát nhau, mõm hướng về phía ngôi nhà, vươn cổ sủa trăng hoặc sủa cái ánh trăng bạc phản chiếu trên các khuôn cửa sổ. Chúng đứng bất động một lát, nhưng khi Zhivago kịp hiểu đấy là chó sói, thì lập tức chúng cúp đuôi, chuồn khỏi cánh rừng thưa như những con chó nuôi, tựa hồ chúng đọc được ý nghĩ của Zhivago.

Chàng không kịp xác định chúng lẩn đi về hướng nào.

“Một điều bất ngờ khó chịu” – chàng tự nhủ. – “Chỉ còn thiếu có chúng nữa thôi. Chẳng lẽ hang sói ở gần đâu đây?
Không chừng ngay ở dưới cái khe núi cũng nên. Khủng khiếp thật! Chắc con Savraska của Samdeviatov ở trong chuồng ngựa cũng sợ chết khiếp. Hẳn là lũ sói đã đánh hơi thấy nó”.

Chàng quyết định tạm thời chưa nói gì với Lara, để khỏi làm cho nàng hoảng hốt. Chàng quay vào nhà, chèn kỹ cửa ngoài, khép các cánh cửa thông từ hai phòng ấm sang các phòng không có lò sưởi, bịt kín các khe hở để giữ nhiệt, rồi trở lại bàn.

Ngọn đèn vẫn tỏ ra niềm nở như cũ, nhưng chàng đã chẳng còn hứng để viết. Chàng không thể yên tâm được.

Chàng không tài nào nghĩ ra được điều gì, trừ chuyện lũ chó sói và những trò rắc rối nguy hiểm khác. Vả lại chàng cũng đã thấm mệt. Đúng lúc ấy Lara tỉnh giấc.

– Anh vẫn cứ cháy sáng và toả hơi ấm vậy ư, ngọn nến yêu quý của em. – Nàng khẽ nói, giọng ướt nặng vì giấc ngủ

– Anh hãy ngồi lại bên em một lát, em sẽ kể anh nghe giấc mơ vừa rồi của em.
Chàng bèn tắt đèn.

Lại một ngày trôi qua trong cơn điên êm dịu. Họ tìm thấy trong nhà một chiếc xe trượt tuyết của trẻ con. Zhivago dùng xẻng đắp một đống tuyết cao trước nhà, đổ nước lên trên cho đóng thành băng. Katenka mặc áo lông xù xù, mặt đỏ bừng vì lạnh, vừa cười ha hả vừa ngồi trên xe cho nó trượt vun vút xuống khỏi đống tuyết. Trượt hết đà, nó lại cầm một đầu dây kéo chiếc xe lên ngọn đống tuyết, để rồi tiếp tục cười khoái trá cho xe chở nó trượt xuống dưới sân.
Trời mỗi lúc mỗi rét căm căm. Tuyết đượm sắc vàng dưới ánh nắng ban trưa, và cái sắc vàng mật ong ấy có pha lẫn chất cặn ngọt ngào màu da cam của bóng chiều sớm buông, việc giặt giũ và tắm rửa ngày hôm qua đã khiến cả căn nhà bị ẩm ướt. Các cửa sổ bị phủ một lớp sương tuyết xôm xốp.
Hơi nước để lại các vệt đen ẩm thấp trên lớp giấy dán tường suốt từ trần xuống tận sàn. Các phòng trở nên u ám và mát mẻ ấm cúng. Zhivago bưng củi, xách nước, tiếp tục xem xét các nơi trong nhà, luôn luôn phát hiện thêm những điều mới mẻ. Với sự trợ giúp của chàng, Lara suốt từ sáng cứ luôn chân luôn tay làm hết việc nọ đến việc kia.
Nhiều khi giữa lúc đang hăng hái làm việc, tay họ chạm nhau và quấn quýt lấy nhau. Vật nặng họ vừa nhấc lên để khiêng đi liền bị đặt xuống sàn. Cả hai sững sờ vì niềm âu yếm dâng lên dạt dào không sao cưỡng lại được. Mọi thứ lại vuột khỏi tay họ và bay ra khỏi tâm trí họ. Các giây phút lại trôi nhanh, hợp lại thành giờ và trời đã xế tà, cả hai mới định thần, giật mình nhớ rằng bé Katenka suốt thời gian ấy bị bỏ mặc hoặc con ngựa chưa được ăn uống gì cả, họ vội vội vàng vàng chạy bổ đi làm bù cho sự sơ suất và cảm thấy bị lương tâm cắn rứt.
Vì thiếu ngủ, Zhivago thấy nhức đầu. Trong đầu như có một màn sương mù ngọt ngào, say sưa: toàn thân ê ẩm và mỏi mỏi rất dễ chịu. Chàng nóng lòng mong trời mau tối để có thể tiếp tục công việc bỏ dở đêm qua.
Cái màn sương mù ngái ngủ thấm suốt cơ thể chàng, bao phủ vạn vật xung quanh và toàn bộ tư tưởng của chàng đã hoàn tất giúp chàng một nửa phần việc. Nó làm cho hết thảy mọi sự mang tính chất mơ hồ khái quát, một sự mơ hồ chuẩn bị dẫn tới giai đoạn nhập thân chính xác cuối cùng. Hệt như sự mơ hồ của các bản nháp đầu tiên vả tình trạng nhàn tản uể oải suốt cả ngày là phần chuẩn bị cần thiết cho một đêm lao động miệt mài.
Sự nhàn rỗi mệt mỏi không để một cái gì y nguyên, bất biến. Tất cả đều bị thay đổi và mang một sắc thái khác.
Zhivago cảm thấy rằng mơ ước của chàng về khả năng định cư lâu lâu tại Varykino là ảo tưởng, rằng giờ phút chàng phải chia tay với Lara đã gần kề, rằng chàng sắp mất hẳn nàng, và cùng với việc mất nàng, chàng sẽ mất luôn niềm vui sống và có lẽ mất luôn cuộc sống. Nỗi buồn giày vò trái tim chàng. Nhưng chàng còn bị giày vò hơn nữa bởi sự nóng ruột chờ buổi tối mau đến, bởi sự khao khát thổ lộ và diễn tả nỗi buồn ấy sao cho bất cứ ai đọc đến cũng phải thổn thức.
Lũ chó sói vẫn ám ảnh chàng suốt ngày hôm nay đã không còn là mấy con sói đứng trên tuyết sủa trăng mà trở thành một đề tài về chó sói, thành biểu tượng sức mạnh thù nghịch muốn giết chết chàng và Lara hoặc muốn đẩy họ ra khỏi Varykino. Ý tưởng về sự thù nghịch ấy được phát triển dần, đến tối thì đạt tới sức diễn tả, hệt như dưới khe Sutma vừa phát hiện dấu vết của một quái vật thời tiền sử, hoặc một con rồng huyền thoại khổng lồ đang thèm uống máu chàng và xé xác Lara.
Đêm xuống. Cũng như đêm trước, Zhivago thắp đèn bàn. Hai mẹ con Lara đã đi ngủ sớm hơn tối hôm qua.
Những bài chàng viết đêm qua chia thành hai loại. Loại bài cũ được sửa chữa, được chép lại sạch sẽ bằng nét chữ nắn nót. Loại bài mới, được viết tắt, nét chữ nguệch ngoạc khó đọc, xen nhiều dấu chấm lửng.
Khi đọc lại loại bài thứ hai, Zhivago cảm thấy nỗi thất vọng thường lệ. Đêm qua, những mẩu viết nháp ấy khiến chàng rơm rớm nước mắt và sững sờ vì những thành công bất ngờ. Giờ đây, chính những đoạn tưởng là thành công ấy lại làm cho chàng khựng lại khó chịu bởi sự gượng gạo lồ lộ ra đó.
Suốt đời chàng vốn mơ ước đạt tới sự độc đáo thầm lặng, bề ngoài khó nhận ra vì được giấu kín dưới lớp vỏ hình thức thông dụng và quen thuộc. Suốt đời chàng cố tình luyện một bút pháp dè dặt và giản dị khiến người đọc hoặc người nghe thấu hiểu nội dung mà tự họ không nhận ra họ đã thấu hiểu bằng cách nào. Suốt đời chàng quan tâm đến một phong cách kín đáo, không lôi cuốn sự chú ý của bất kỳ ai, và chàng kinh hoảng khi thấy mình còn rất lâu mới vươn tới lý tưởng đó.
Trong các phác thảo đêm qua, bằng các phương tiện giản dị, đạt tới mức thầm thì, tha thiết của điệu hát ru, chàng muốn diễn tả tâm trạng của mình, một tâm trạng yêu thương xen lẫn sợ hãi vừa buồn bã vừa dũng cảm, diễn tả sao đó để nó tự trào ra, gần như không lệ thuộc vào từ ngữ.
Bây giờ, sau một ngày, khi xem lại các phác thảo ấy, chàng thấy chúng còn thiếu cái nút nội dung để liên kết các dòng thơ tản mạn thành một thể thống nhất. Trong khi sửa dần những câu viết, Zhivago bắt đầu kể lại huyền thoại Thánh Gioóc can đảm cũng với bút pháp trữ tình tương tự. Chàng bắt đầu bằng cách dùng thể thơ năm âm tiết, là thể thơ cho phép người ta được rộng rãi, tự do hơn. Nhưng sự hoà âm vốn có của cách luật ấy độc lập với nội dung, khiến chàng bực bội về sự du dương giả tạo và ước định của nó. Chàng bèn vứt bỏ thể thơ bay bướm khoa trương ấy, dồn mỗi dòng thơ chỉ còn lại bốn âm tiết như người ta thường đương đầu với sự dài dòng trong văn xuôi. Bây giờ viết khó khăn hơn, nhưng hấp dẫn hơn. Công việc bắt đầu trở nên sinh động hơn, nhưng vẫn còn những chi tiết rườm rà lọt vào câu thơ. Chàng tự buộc mình phải rút ngắn các dòng thơ hơn nữa. Bây giờ các từ ngữ chen chúc trong thể thơ ba âm tiết, những dấu vết cuối cùng của trạng thái buồn ngủ đã hoàn toàn biến mất, chàng cảm thấy tỉnh táo, phấn chấn, khoảng hẹp ngăn cách các dòng thơ tự mách bảo nên dùng từ ngữ nào để điền kín vào đó. Những sự vật, vừa được gọi tên bằng từ ngữ, lập tức hiện ra lồ lộ trong bộ khung gợi nhắc. Chàng nghe rõ tiếng vó ngựa bước trên bề mặt câu thơ, như người ta nghe thấy tiếng ngựa phi nước kiệu bị vấp ngã trong một khúc tự sự của Sôpanh. Thánh Gioóc – Chiến Thắng đang trên thảo nguyên bao la, Zhivago nhìn từ phía sau, thấy ngài mỗi lúc một xa dần về phía chân trời. Zhivago viết hối hả để kịp ghi những từ ngữ và những câu thơ đang dồn dập hiện ra rất đúng chỗ của chúng.
Chàng không để ý rằng Lara đã trở dậy và tới bên bàn. Nàng có vẻ mảnh mai và cao hơn trong chiếc áo ngủ dài trùm cả gót chân. Zhivago giật nẩy mình, khi nàng đột ngột hiện ra bên cạnh, vẻ mặt nàng tái nhợt, hoảng hốt, nàng vừa giơ một cánh tay về phía trước, vừa hỏi nhỏ:
– Anh có nghe thấy không? Một con chó đang tru. Thậm chí hai con cũng nên. Ôi, kinh khủng quá, đó là một điềm gở vô cùng! Ta ráng chịu đựng đến sáng, rồi ta sẽ ra đi, sẽ ra đi. Em sẽ không ở lại thêm một phút nào nữa.
Sau một giờ nghe bao lời thuyết phục, Lara mới trấn tĩnh và đi ngủ lại. Zhivago bước ra thềm. Lũ chó sói ở gần hơn đêm trước và chúng lẩn đi còn nhanh hơn nữa. Zhivago lại không kịp theo dõi xem chúng biến đi ngả nào. Chúng đứng xúm thành đàn, chàng chưa kịp đếm. Chàng có cảm giác chúng kéo tới đông hơn.
Đã sang ngày thứ mười ba kể từ hôm nọ đến Varykino. Ngày hôm nay, tình hình không khác gì những ngày đầu.
Những con chó sói đi biệt giữa tuần đầu, đêm qua lại tru lên như cũ. Lara vẫn tưởng chúng là chó nuôi và hoảng sợ điều gở ấy lại khăng khăng đòi ra đi sáng hôm sau. Trạng thái cân bằng của nàng cứ luôn luôn bị xáo trộn bởi các cơn lo buồn, là điều rất tự nhiên ở một người phụ nữ cần cù, không quen suốt ngày thổ lộ tâm tình hoặc phung phí quá trớn các cử chỉ dịu dàng âu yếm.
Mọi chuyện được lặp lại y như hệt, đến nỗi sáng nay, vào cuối tuần thứ hai này, khi Lara, cũng như bao lần trước đó, lại sửa soạn hành lý lên đường trở về thành phố, thì có thể tưởng tượng rằng họ chưa hề sống mười hai ngày vừa qua.
Các căn phòng lại ẩm ướt và tối tăm vì ngoài trời u ám, đầy mây xám bay rất thấp. Cái giá rét có dịu đi, chắc tuyết sắp ập xuống bất cứ lúc nào. Sự mệt mỏi về tinh thần và thể xác vì thiếu ngủ kéo dài khiến Zhivago như muốn quỵ xuống. Chân run, đầu óc rối bời, sức lực cạn dần, chàng cảm thấy ớn lạnh cả người. Vừa co ro xoa hai tay vào nhau cho ấm, chàng vừa đi đi lại lại trong căn phòng không đốt lò sưởi, không biết Lara sẽ quyết định thế nào và chàng cần làm gì cho phù hợp với quyết định của nàng.
Các dự tính của nàng khá mơ hồ. Giờ phút này, nàng sẵn sàng đánh đổi nửa cuộc đời để cả hai cùng thoát cảnh tự do hỗn loạn này, để tuân theo một trật tự dù rất nghiêm ngặt, song miễn là trật tự ấy được định đoạt một lần cho mãi mãi, để họ được đi làm, để họ có các trách nhiệm, để họ có thể sống lương thiện và hợp lý.
Sáng ra, như thường lệ, Lara xếp dọn chăn đệm, quét nhà, dọn bữa điểm tâm cho Zhivago và Katenka. Sau đó nàng bắt đầu gói ghém hành lý và xin chàng thắng ngựa vào xe. Nàng cương quyết và dứt khoát ra đi.
Zhivago không tìm cách can ngăn nàng. Trở về thành phố, giữa lúc ở đấy đang diễn ra bao nhiêu vụ bắt bớ, sau khi họ biến mất hẳn hai tuần, là một hành động hoàn toàn điên rồ.
Nhưng vị tất đã khôn ngoan hơn, nếu cứ ngồi lỳ ở đây, bơ vơ trơ trọi, không có lấy một tấc vũ khí, giữa mùa đông, trong cảnh hoang vắng rùng rợn đầy hiểm nguy rình rập họ này.
Ngoài ra, những bó cỏ khô cuối cùng mà chàng vét được ở các gian kho quanh đây cũng sắp hết nhẵn, chưa biết sẽ tìm thêm ở đâu. Dĩ nhiên, nếu có thể sống ở đây lâu dài hơn, chàng sẽ lần mò đến khu vực lân cận, lo kiếm cỏ khô và thực phẩm dự trữ. Nhưng chỉ dừng chân tạm bợ, phó mặc cho sự may rủi thì chẳng đáng cất công đi kiếm ăn như vậy. Nghĩ thế, chàng bèn phẩy tay bước ra sân thắng ngựa.
Chàng thắng ngựa vào xe rất vụng về. Tuy Samdeviatov đã hướng dẫn cho chàng, nhưng chàng lại quên mất. Mặc dù vậy với hai bàn tay lóng ngóng, cuối cùng chàng cũng vẫn làm được tất cả những việc cần thiết. Chàng buộc cái ách vào càng xe, tết đầu dây đai da thành nút, quấn vài vòng vào một bên càng xe, sau đó, tì một chân vào sườn con ngựa, chàng kéo thật căng hai đầu cái vòng cổ cho khít, làm nốt mấy việc còn lại xong xuôi, dắt ngựa tới bên thềm, buộc vào đó, rồi vào nhà báo cho Lara biết rằng đã có thể lên đường.
Chàng thấy nàng vô cùng bối rối. Hai mẹ con nàng đã ăn mặc giản dị để đi, hành lý đã gói ghém đâu ra đấy, nhưng Lara cứ bẻ các ngón tay kêu răng rắc, cố ghìm nước mắt, đề nghị
Zhivago ngồi xuống một phút, nàng cứ buông phịch người xuống đi- văng rồi lại đứng lên, nàng nói liến thoắng, thiếu hẳn mạch lạc, luôn luôn chêm vào câu: “Phải vậy không anh?” bằng một giọng cao, nghe du dương và rền rĩ:
– Em không có lỗi. Chính em cũng không biết sao lại như vậy Nhưng lẽ nào có thể ra đi bây giờ kia chứ? Trời sắp tối rồi. Ta sẽ gặp đêm tối ở giữa đường. Và đúng trong cái cánh rừng ghê sợ của anh. Phải vậy không anh? Em sẽ làm theo lệnh anh, nhưng tự em, để em quyết định, thì em không dám. Có một cái gì ngăn em lại. Em lo lắm, anh ạ.
Còn tùy ý anh đấy. Phải vậy không anh? Sao anh cứ lặng yên, chẳng nói gì thế? Chúng mình lãng phí hết buổi sáng, mất cả nửa ngày chẳng biết cho việc gì. Ngày mai, điều đó sẽ không tái diễn, ta sẽ thận trọng hơn, phải vậy không anh? Có lẽ, ta ở lại thêm một đêm nữa hả anh? Sáng mai ta sẽ dậy sớm, lên đường vào khoảng sáu bảy giờ gì đó. Anh nghĩ sao? Anh sẽ đốt lò sưởi, sẽ có thêm một buổi tối để viết, ta sẽ ngủ lại đây thêm một đêm nữa. Ôi chao, như thế mới độc đáo và kỳ diệu đấy? Kìa, sao anh không trả lời em gì cả. Em lại có lỗi rồi, khốn khổ thân em.
– Em quá lo đấy. Còn lâu mới tối. Trời hãy còn sớm lắm mà. Nhưng tùy em. Được. Ta sẽ ở lại. Có điều là em hãy bình tĩnh. Anh thấy em xúc động quá đấy. Thôi, ta hãy tháo hành lý, cởi áo lông ra nào. Kìa, Katenka nó kêu đói rồi đó. Ta hãy ăn một chút. Em rất có lý. Chả tội gì phải ra đi cập rập và thiếu chuẩn bị như thế này. Có điều là em đừng xúc động và đừng khóc, lạy Chúa. Anh sẽ đốt lò ngay đây. Nhưng vì đang sẵn xe ngựa ngoài thềm, anh đến gian kho của nơi anh ở cũ, kiếm ít củi đã chứ ở đây hết củi rồi. Em đừng khóc nào. Anh sẽ trở về ngay thôi.
Cách đây hai ngày Zhivago đã đến gian kho này chở củi. Trên lớp tuyết trước cửa gian kho còn nguyên các vết xe ngựa, vết chân và các vụn củi.
Những đám mây che kín bầu trời từ sáng đã tan hết. Trời quang đãng hẳn lên và lại rét buốt. Hoa viên cũ của khu trại Varykino trải rộng xung quanh chốn này, lan đến sát bên kho như thể để ngó mặt Zhivago và nhắc nhở chàng điều gì. Mùa đông năm nay, tuyết đóng thành một lớp dày, cao hơn cả ngưỡng cửa gian kho. Xà ngang dường như thấp xuống, cả gian kho còng lại như một người gù. Lớp tuyết phủ trên mái nhà rủ xuống như rìa một chiếc nấm khổng lồ, gần chạm đầu Zhivago.
Mảnh trăng lưỡi liềm vừa mọc, sáng như ánh lửa màu xám dọc theo triền mái, hiện ra ngay phía trên mái nhà như cắm ngập một đầu nhọn vào tuyết.
Mặc dù bây giờ vẫn còn là ban ngày và trời sáng sủa, song Zhivago có cảm tưởng chàng đang đứng trong khu rừng rậm âm u của đời mình, giữa đêm khuya. Tâm hồn chàng ngập tràn bóng tối, lòng chàng đẩy nỗi phiền muộn và vầng trăng non rọi sáng ở ngang tầm mắt chàng như điềm báo cảnh chia ly, như hình ảnh sự cô đơn.
Chàng mệt mỏi đến mức chỉ trực quỵ xuống. Trong khi ném củi, từ trong gian kho lên xe, chàng chỉ đủ sức nhặt vài thanh một, ít hơn hẳn mọi khi. Tuy đã mang găng, song tay vẫn đau khi cầm lấy những thanh củi lạnh cứng như đá bị dính tuyết. Chàng cử động thật nhanh mà vẫn không thấy ấm người hơn. Có một cái gì bị ngưng đọng trong lòng chàng và bị đứt vỡ ra. Chàng nguyền rủa cái số phận hẩm hiu bất tài của mình và cầu Chúa phù hộ, giữ gìn sự sống cho sắc đẹp diễm kiều, u buồn, ngoan ngoãn, đôn hậu ấy. Còn mảnh trăng vẫn treo trên gian kho và cháy sáng mà không sưởi ấm, soi mà không tỏ.
Đột nhiên con ngựa quay đầu về phía nhà Mikulisyn, ngẩng đầu cao mà hí, thoạt tiên khe khẽ và dè dặt, sau đó to dần và tự tin.
“Sao nó hí vậy?” – Zhivago nghĩ. “Vì vui mừng ư? Chắc chắn không phải vì hoảng sợ. Ngựa không hí vì sợ hãi, cái lũ ngớ ngẩn ấy. Nếu con này đánh hơi thấy chó sói, nó chả dại gì đánh tiếng cho chó sói biết nó ở đây. Tiếng hí của nó nghe rất vui mừng. Chắc nó ngửi thấy hơi hướng bầy đàn ấm cúng, nó muốn quay về nhà. Hượm nào, ta cũng sắp về đây”.
Để có cái nhóm lửa, Zhivago còn vơ vét trong gian kho cả vỏ bào và những mảnh vỏ bạch dương được bóc nguyên cả miếng lớn, to tròn như thành ủng; chàng phủ lên chót đống củi một miếng vải gai, buộc dây chặt lại, rồi dắt ngựa kéo xe củi về nhà Mikulisyn.
Con ngựa lại hí, lần này là để đáp lại tiếng ngựa hí từ đằng xa vọng lại khá rõ. Zhivago giật mình nghĩ thầm: “Ngựa của ai vậy nhỉ? Cứ tưởng Varykino hoàn toàn hoang vắng. Hoá ra mình với Lara đã lầm”. Chàng không thể ngờ rằng có khách đến thăm, và tiếng ngựa kia vọng tới từ phía thềm nhà Mikulisyn, từ phía vườn cây. Chàng dắt con Savraska đi vòng đằng sau, tới dãy nhà phụ của trại, và vì ngôi nhà chính bị các gò đất đầy tuyết che lấp, nên chàng không nhìn thấy phía trước ngôi nhà.
Chàng thong thả (tại sao chàng phải vội vã kia chứ?), chất củi vào kho, tháo ngựa, đẩy xe vào kho, dắt ngựa sang cái chuồng trống trải và lạnh lẽo ở bên cạnh. Chàng đưa nó vào góc chuồng bên phải, chỗ kín gió, ôm mấy bó cỏ khô còn lại trong kho sang, ném vàơ cái máng nghiêng nghiêng.
Với tâm trạng bất an, chàng đi lên ngôi nhà chính. Trước thềm có một chiếc xe ngựa rất rộng, kiểu xe của bà con nông dân, thùng xe tiện lợi, với một con ngựa đực mập mạp, màu đen. Đi tới đi lui vỗ vỗ hai bên hông ngựa và xem xét các móng ngựa là một gã trai lạ mặt, cũng mập mạp và mượt mà như con ngựa, mặc chiếc áo da thú khá bảnh.
Trong nhà có tiếng ồn ào. Zhivago không muốn nghe lén và cũng không còn sức nghe rõ một câu gì, bất giác chàng chậm bước rồi, đứng sững lại. Tuy không phân biệt rõ từng lời, nhưng chàng nhận ra giọng nói của Komarovski và của hai mẹ con Lara. Chắc chắn họ đang ở phòng đầu tiên, sát cửa ra vào.
Komarovski đang tranh luận với Lara, và căn cứ vào tiếng đáp của nàng, thì Lara đang xúc động, khóc lóc, có lúc nàng phản đối hắn gay gắt, có lúc nàng lại đồng ý với hắn. Qua một dấu hiệu lờ mờ nào đó, Zhivago nghĩ rằng lúc này Komarovski đang nói về chính chàng, đại ý rằng chàng là kẻ không đáng tin cậy (“Làm tôi tớ cho hai chủ” – Zhivago thấy hình như hắn bảo vậy), rằng chưa biết chàng coi trọng và yêu quý ai hơn, gia đình chàng hay Lara, rằng Lara chớ nên trông cậy ở chàng, bởi lẽ nếu tin chàng, tức là nàng “bắt cá hai tay” và sẽ “xôi hỏng bỏng không”. Zhivago bèn bước vào nhà.
Đúng như chàng nghĩ, họ đang đứng ở phòng đầu tiên. Komarovski mặc chiếc áo lông dài lụng thụng. Lara thì đang nắm ve áo lông của Katenka, cố gài móc cổ áo cho con mà không được. Nàng đổ quạu với con, quát bảo nó không được quay ngang quay ngửa và vùng vằng, trong khi nó kêu: “Mẹ, mẹ nhẹ tay chứ, mẹ làm con nghẹt thở bây giờ”. Cả ba đều đã ăn mặc chỉnh tề, sẵn sàng lên đường. Thấy Zhivago bước vào, Lara và Komarovski chạy vội ra đón chàng.
– Anh biến đi đâu thế? Mọi người đang đợi anh ghê quá!
– Chào anh Zhivago? Mặc dầu những lời lẽ thô bạo mà chúng ta đập vào mặt nhau lần trước, một lần nữa tôi lại tới gặp các người, dù không được mời.
– Chào ông Komarovski.
– Anh biến đi đâu lâu thế? Anh hãy nghe ông ấy nói và quyết định mau lẹ cho anh và cho em. Không còn thời gian nữa rồi. Phải gấp lên mới được.
– Sao ta cứ đứng thế này? Mời ông Komarovski ngồi đi.
– Anh biến đi đâu à, Lara? Em còn lạ gì, anh đi kiếm củi chứ đi đâu, sau đó anh săn sóc con ngựa. Kìa ông Komarovski, mời ông ngồi xuống.
– Anh không ngạc nhiên ư? Sao anh không tỏ vẻ ngạc nhiên nhỉ? Hai chúng mình đã lấy làm tiếc về chuyện ông ấy đi mất, mà ta thì không chộp lấy đề nghị của ông ấy; bây giờ ông ấy đang đứng trước mặt anh, mà anh không hề ngạc nhiên. Nhưng các tin tức mới của ông ấy đem đến còn đáng kinh ngạc hơn nữa. Ông Komarovski hãy kể cho anh ấy nghe đi…
– Tôi chưa biết cô Lara muốn nói gì, còn về phần tôi, tôi xin nói thế này. Tôi đã cố ý phao tin tôi đã đi, nhưng tôi vẫn nấn ná ở lại thêm vài ngày, để hai vị có thời gian suy tính lại những vấn đề chúng ta đã nêu ra và sau khi đã suy tính chín chắn, có thể các vị sẽ đi tới một quyết định sáng suốt hơn.
– Nhưng ta không thể chần chừ thêm nữa, – Lara xen vào. – Đi bây giờ là thuận tiện nhất. Sáng ngày mai, – nhưng thôi, để chính ông Komarovski kể với anh thì hay hơn.
– Hượm đã nào, Lara yêu quý. Xin lỗi ông Komarovski. Tại sao chúng ta cứ để nguyên áo khoác mà đứng thế này. Ta hãy cởi áo lông ra và ngồi xuống đã. Đây là một chuyện hệ trọng kia mà. Đâu có nói theo kiểu ba chớp ba nhoáng được. Xin lỗi ông Komarovski. Cuộc tranh luận của, chúng ta động chạm tới một vài điểm tế nhị riêng tư.
Đem chúng ra phân tích sẽ là việc tức cười và bất tiện. Tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện cùng đi với ông. Lara thì khác. Trong một vài trường hợp hiếm hoi, khi chúng tôi có những mối băn khoăn khác nhau, và khi chúng tôi nhớ ra rằng chúng tôi không phải là một, mà là hai người, với hai số phận riêng biệt, thì tôi cho rằng Lara, nhất là vì nghĩ đến Katenka, nên tính kỹ hơn về các kế hoạch của ông. Và nàng vẫn không ngừng làm việc ấy, luôn luôn trở lại giải pháp ấy.
– Nhưng chỉ với điều kiện là anh cùng đi với em cơ.
– Thật cực lòng cho cả hai ta khi nghĩ đến chuyện chia lìa, nhưng có lẽ ta nên gạt tình cảm sang một bên và chấp nhận hy sinh đó. Bởi không thể có chuyện anh sẽ đi cùng.
– Nhưng anh chưa biết gì cả. Trước hết anh hãy nghe đã. Sáng mai… Ông Komarovski?
– Chắc cô Lara muốn nói tới những tin tức do tôi mang đến và đã kể với cô ấy. Có một chuyến xe lửa công vụ của Chính phủ Viễn Đông đang đậu ở nhà ga Yuratin. Chuyến tàu ấy chạy từ Moskva đến ngày hôm qua và ngày mai sẽ tiếp tục khởi hành. Đó là chuyến tàu của Bộ giao thông chúng tôi. Một nửa là các toa quốc tế, có giường ngủ tử tế. Tôi phải đáp chuyến tàu đó. Người ta dành cho tôi một số chỗ để tôi bố trí cho những ai được tôi mời vào ban cán sự công tác của tôi. Chúng ta sẽ được đi một chuyến tàu đầy đủ tiện nghi. Một cơ hội như thế sẽ chẳng bao giờ lặp lại. Tôi biết anh không nói buông trôi và sẽ không từ bỏ quyết định của anh là chẳng chịu đi cùng. Anh là người đã quyết thì như đinh đóng cột, tôi biết. Dầu vậy, mong anh hãy nghĩ lại, hãy vì Lara. Anh đã nghe rồi đó, thiếu anh, cô ấy sẽ không đi. Vậy anh hãy cùng đi với chúng tôi, nếu không đến được Vladivostok, thì ít ra cũng đến Yuratin. Tới đó ta sẽ liệu. Nhưng có điều là phải gấp lên. Không nên lãng phí dù chỉ một phút. Tôi không biết đánh xe, nên có mang theo một người đi cùng. Cả năm người chúng ta cùng ngồi xe thì không đủ chỗ. Nếu tôi không lầm, anh có con ngựa của Samdeviatov. Anh chả vừa bảo anh đánh xe ngựa đi lấy củi đó sao. Anh vẫn chưa tháo ngựa ra khỏi xe đấy chứ?
– Tôi tháo ra rồi.
– Nếu vậy, anh hãy mau mau thắng ngựa vào xe. Cậu xà ích của tôi sẽ giúp anh. Mà thôi. Chả cần đến chiếc xe thứ hai nữa. Đi một chiếc xe của tôi cũng xong. Có điều là, lạy Chúa, hãy gấp gấp lên. Chỉ nên đem mấy thứ hành lý tối cần thiết, những gì quơ được trong tầm tay thôi. Nhà cửa cứ bỏ mặc đấy, khỏi cần khoá. Cần cứu lấy mạng sống của đứa trẻ, chứ không phải là đóng cửa cài then dềnh dàng.
– Ông Komarovski, tôi không hiểu ông. Ông cứ nói như thể tôi đã bằng lòng ra đi không bằng. Ông cứ việc đi đường ông cùng với Lara, nếu nàng muốn vậy. Còn về ngôi nhà này, ông khỏi bận tâm. Tôi sẽ ở lại, và sau khi các người đã đi, tôi sẽ dọn dẹp và đóng cửa cài then cẩn thận.
– Anh nói gì vậy, Yuri yêu quý? Anh cứ nói những lời nhảm nhí ấy để làm gì, khi chính anh cũng không tin. “Nếu Lara muốn như vậy”! Chính anh thừa biết rằng một khi anh không đi cùng, thì chẳng có Lara cùng với ý muốn của Lara nào hết. Vậy anh còn bảo “Tôi sẽ dọn dẹp nhà cửa và lo liệu tất cả” làm gì kia chứ?
– Nghĩa là anh quyết không để ai lay chuyển. Nếu vậy, xin có một đề nghị khác. Xin phép cô Lara cho tôi nói riêng với anh ấy đôi lời.
– Được thôi. Nếu quả thực cần làm như thế, thì mời ông sang gian bếp. Em không phản đối chứ, Lara?
– Strelnikov đã bị bắt, bị kết án tử hình và bị bắn rồi.
– Thật đáng sợ. Chẳng lẽ đúng như vậy?
– Tôi được nghe tin ấy. Và tôi chắc là đúng.
– Đừng cho Lara biết. Cô ấy sẽ phát điên lên mất.
– Dĩ nhiên. Chính vì lẽ đó mà tôi xin nói chuyện nêng với anh. Sau khi Strelnikov bị xử bắn, hai mẹ con cô ấy đang bị đe dọa trực tiếp. Anh hãy giúp tôi cứu họ. Anh quyết không cùng đi với chúng tôi ư?
– Tôi đã nói với ông rồi. Hẳn vậy.
– Nhưng thiếu anh thì cô ấy không chịu đi. Tôi thật chả còn biết làm thế nào. Nếu vậy thì cần anh giúp theo cách khác.
Anh hãy giả vờ nói là anh chịu nhượng bộ, anh hãy tỏ vẻ làm như người ta có thể thuyết phục được anh. Tôi không thể hình dung được cảnh hai người chia tay, dù ở ngay tại đây lẫn ở nhà ga Yuratin, giả sử anh thực sự đưa tiễn chúng tôi. Phải làm sao để cô ấy tin rằng anh cũng ra đi mới được. Nếu không phải ngay bây giờ, đi cùng với chúng tôi, thì cũng chỉ ít lâu sau, khi nào tôi dành cho anh một cơ hội mới mà anh hứa là sẽ tận dụng nó. Ở đây anh phải tỏ ra có thể thề thốt giả dối với cô ấy.
Còn về phần tôi, thì đó không phải là lời nói suông. Tôi lấy danh dự thề với anh, rằng chỉ cần anh tỏ ý muốn, tôi sẽ lập tức lo liệu đưa anh tới ngay Viễn Đông và sau đó gửi anh đi bất cứ nước nào anh muốn. Lara phải tin rằng anh đưa tiễn chúng tôi đi. Anh hãy dốc sức thuyết phục cho cô ấy tin như vậy. Chẳng hạn, anh hãy giả vờ chạy đi thắng ngựa vào xe và giục chúng tôi cứ đi trước ngay lập tức, khỏi cần đợi anh thắng ngựa xong, bởi anh sẽ đuổi kịp chúng tôi trên đường.
– Tôi sửng sốt trước cái tin Strelnikov bị xử bắn nên không thể bình tĩnh được. Tôi rất vất vả theo dõi những điều ông vừa nói. Nhưng tôi đồng ý với ông. Sau khi họ thanh toán xong Strelnikov, theo lô- gic thời nay, sinh mệnh hai mẹ con Lara cũng đang bị đe dọa. Chắc một trong hai chúng tôi sẽ bị bắt và do đó, đằng nào chúng tôi cũng phải xa nhau. Nếu vậy, thà để ông chia lìa chúng tôi còn hơn. Ông hãy đưa mẹ con cô ấy đi một nơi nào đó, càng xa càng tốt, tới góc biển chân trời cũng được. Lúc này, khi tôi nói thế với ông, mọi việc đã đang diễn ra theo cách xếp đặt của ông rồi. Chắc rồi cũng sẽ đến lúc tôi hết chịu đựng nổi, sẽ phải đẹp lòng kiêu hãnh và tính tự ái, mò đến chỗ ông để xin ông ban cho cả Lara, cả sự sống, cả con đường vượt biển ra nước ngoài với gia đình, lẫn sự cứu vớt chính mình. Nhưng ông hãy để cho tôi tính kỹ toàn bộ chuyện đó đã. Cái tin ông vừa báo cho tôi biết đã khiến tôi choáng váng. Nỗi đau khổ đè bẹp tôi, cướp mất khả năng suy nghĩ và lập luận của tôi. Có thể, do nghe lời ông, tôi đang phạm một sai lầm chết người, không cách gì cứu vãn được nữa, khiến tôi sẽ phải suất đời kinh sợ, nhưng trong cái màn sương mù đau đớn đang hút hết sức lực của tôi, chỉ còn một việc độc nhất tôi có thể làm bây giờ, ấy là phụ hoạ ông như một cái máy và mù quáng, nhu nhược tuân theo ý muốn của ông. Vậy là tôi giả bộ vì lợi ích của cô ấy, tôi sẽ báo cho cô ấy ngay bây giờ, rằng tôi đi thắng ngựa vào xe và sẽ đuổi kịp ông, chứ thực ra tôi sẽ ở lại đây một mình. Còn một chi tiết nhỏ này. Bây giờ sắp tối rồi, các người sẽ đi ra sao đây? Đường thì xuyên qua rừng, xung quanh đầy chó sói, mong ông hãy cẩn thận.
– Tôi biết. Tôi có súng trường và súng ngắn. Anh khỏi lo.
Tôi còn đem theo một ít rượu mạnh, phòng khi trời quá giá lạnh. Lượng rượu cũng kha khá. Tôi sẽ san cho anh, anh có muốn không?
“Ta đã làm những trò gì? Ta đã làm những trò gì? Ta đã dâng nàng, đã chối bỏ nàng, ta đã nhường nàng cho hắn. Phải đuổi theo, đuổi cho kịp, đưa nàng trở lại. Lara? Lara!”.
Họ không nghe thấy. Gió thổi ngược chiều. Và có lẽ họ đang lớn tiếng trò chuyện với nhau. Nàng có đủ mọi lý do để vui vẻ yên tâm. Nàng đã tự để nàng lầm lạc như thế nào.
Chắc nàng đang nghĩ như thế này. Tất cả mọi chuyện đã diễn ra hết sức tốt đẹp, đúng theo nguyện vọng của nàng. Yuri thân yêu của nàng, cái anh chàng ngông cuồng, cứng đầu cứng cổ ấy, cuối cùng đã chịu nghe, vinh quang thay Đấng Sáng Thế, và đã chịu đi cùng nàng tới một nơi an toàn, đến với những người khôn ngoan hơn họ, dưới sự che chở của luật pháp và trật tự. Ngay dù anh ấy cứ khăng khăng giữ ý cũ để tỏ rõ tính cương quyết, cứ làm khó dễ và ngày mai không chịu lên tàu đi cùng với họ, thì thế nào Komarovski cũng sẽ phái một chuyến tàu khác tới đón và anh ấy cũng sẽ đến với mẹ con nàng trong một ngày gần nhất.
Còn bây giờ tất nhiên anh ấy đang ở trong chuồng ngựa, hai bàn tay run rẩy vì xúc động và vội vã, bối rối và không chịu nghe theo ý anh ấy, đang thắng con Savraska và sẽ ngay lập tức lao như tên bắn theo dấu xe mình, nên anh ấy sắp đuổi kịp xe mình ở ngay giữa đồng, trước khi xe mình chạy vào rừng”.
Đó, chắc nàng đang nghĩ vậy. Thế mà hai người đã không nói lấy một lời từ biệt cho tử tế, Zhivago chỉ vẫy tay một cái rồi quay đi, cố nuốt xuống nỗi đau đớn làm chàng nghẹn ngào như bị vướng một miếng táo nơi cổ họng vậy.
Zhivago đứng trên thềm, chiếc áo lông vắt một bên vai. Chàng dùng cánh tay không bị vướng áo lông ghì thật chặt một cây cột nhỏ bên thềm, ngay chỗ thắt ở đầu cột, tựa hồ chàng muốn làm nó nghẹt thở. Toàn bộ ý thức của chàng bị trói vào một điểm xa xăm trong không gian, nơi chàng thấy có một khúc đường bò lên một ngọn núi nhỏ, giữa mấy cây bạch dương mọc cách xa nhau. Mặt trời thấp, sắp lặn, đang rọi sáng đoạn đường trống trải ấy. Ở chỗ dải sáng ấy, sắp phải hiện ra chiếc xe ngựa lao vun vút, vừa chạy khuất xuống một đoạn đường hơi trũng.
– Vĩnh biệt, vĩnh biệt, – Zhivago mê muội nhắc đi nhắc lại không thành tiếng, trong lúc dự cảm giây phút đó, âm thanh ấy chỉ như hơi thở cố bật ra từ ngực chàng để thoảng tan ngay vào không khí giá rét của buổi chiều tà. – Vĩnh biệt người yêu duy nhất của ta, người ta yêu đã đi mất mãi mãi?
Kia rồi? Họ kia rồi! Chàng vội vã thì thầm bằng cặp môi khô tái nhợt, khi chiếc xe trượt tuyết bay ra như một mũi tên từ phía dưới thung lũng, vượt qua mấy cây bạch dương, rồi bắt đầu chậm dần và, ôi sung sướng thay, nó đỗ lại ở bên cây bạch dương cuối cùng.
Ôi, trái tim chàng chợt đập rộn lên, ôi trái tim chàng chợt đập rộn ràng, hai chân chàng như muốn khuỵu xuống, sự hồi hộp khiến chàng mềm cả người như một tấm nỉ, như chiếc áo lông đang tụt khỏi vai chàng? “Ôi lạy Chúa! Hình như Người định trao nàng lại cho con thì phải? Có chuyện gì xảy ra ở đằng ấy? Có chuyện gì đang diễn ra trong cái vệt sáng hoàng hôn xa xa kia? Thế nghĩa là sao? Họ dừng lại để làm gì? Không. Mất hết cả rồi. Họ lại đi rồi. Lao đi rồi. Đấy là nàng yêu cầu đỗ xe một phút để ngó lại từ biệt ngôi nhà một lần nữa. Hoặc có lẽ nàng muốn tin chắc liệu Zhivago của nàng đã lên đường chưa và đã phóng ngựa theo họ hay chưa? Họ đã đi. Họ đi hẳn rồi.
Nếu họ kịp trước khi mặt trời lặn (trong bóng tối chàng sẽ không thể nhìn thấy họ), thì họ sẽ còn thoáng hiện ra một lần nữa, và là lần cuối cùng, ở bên kia khe núi, trong cánh rừng thưa, nơi lũ chó sói đứng hôm kia”.
Rồi giây phút ấy cũng đã tới và cũng đã qua đi. Mặt trời đỏ sẫm vẫn còn đậu trên đường viền xanh xanh của các đống tuyết Tuyết thèm khát uống cái ánh sáng tràn trề màu rượu dứa của mặt trời. Kìa xe họ hiện ra, lao qua vùn vụt. “Vĩnh biệt em, Lara, hẹn gặp em ở thế giới bên kia, vĩnh biệt người đẹp của anh, vĩnh biệt niềm vui bất tận, đời đời của anh”. Kìa thế là họ khuất hẳn rồi. “Sẽ không bao giờ anh còn được thấy em lần nữa, không bao giờ, không bao giờ nữa trong đời anh, sẽ không bao giờ nữa”.
Trong lúc đó, trời đã tối. Những vệt hoàng hôn màu đồng đỏ nằm rải rác trên tuyết nhanh chóng nhạt màu và tắt lịm.
Không gian thoắt chìm vào màu xám tro, rồi màu tím sẫm.
Bóng những cây bạch dương bên đường, – như một đường ren mảnh mai được vẽ trên nền trời hồng nhạt đột nhiên mất vẻ thăm thẳm, – nhòe dần vào màn khói xám của bóng tối cuối ngày.
Nỗi đau tâm hồn làm sắc nhọn khả năng cảm nhận của Zhivago. Chàng nắm bắt tất cả mọi thứ với độ nhạy cảm gấp bội. Vạn vật xung quanh đều trở nên duy nhất quý hiếm, kể cả bản thân không khí – Chưa bao giờ buổi chiều đông lại toả ra vẻ trắc ẩn, như một nhân chứng đầy lòng cảm thông đến độ ấy.
Đúng là chưa có một buổi hoàng hôn như thế, chỉ riêng hôm nay, lần đầu tiên, bóng đêm mới buông theo kiểu này để an ủi kẻ vừa lâm cảnh côi cút, cô đớn. Tựa hồ các cánh rừng đang tựa lưng về phía chân trời, trên các gò đồi xung quanh, không đơn giản là một toàn cảnh rộng lớn, mà như vừa từ lòng đất nổi lên, tự sắp đặt theo cách ấy để biểu lộ sự đồng cảm.
Zhivago gần như từ chối vẻ đẹp gợi cảm của giờ phút ấy, như xua đuổi đám đông, những kẻ cứ bám lấy để chia buồn, chàng gần như sẵn sàng nói nhỏ với những tia hoàng hôn còn đang cố với đến chỗ chàng: “Cảm ơn. Khỏi cần”.
Chàng tiếp tục đứng trên thềm nhà, hướng mặt vào cánh cửa khép kín, quay lưng lại với thế giới bên ngoài. “Mặt trời sáng láng của ta đã lặn rồi”, – tiếng nói trong lòng chàng cứ nhắc đi nhắc lại như thế. Chàng không đủ sức để thốt ra những lời lẽ ấy cho trọn câu, mà không bị các cơn co thắt nơi cổ họng làm chúng nghẹn lại.
Chàng bước vào nhà. Một cuộc độc thoại kép bắt đẩu diễn ra trong lòng chàng: độc thoại thứ nhất khô khan, có vẻ thực tế, nhằm vào bản thân chàng; độc thoại thứ hai lai láng, không bến bờ, hướng tới Lara. Chàng nghĩ như thế này. “Bây giờ ta sẽ về Moskva. Và việc trước tiên là phải giữ tròn mạng sống. Đừng sa vào bệnh mất ngủ. Không được đi nằm. Đêm đêm phải làm việc cho đến khi mụ cả người, cho đến khi mệt quá phải nằm lăn quay ra mà ngủ. Còn việc này nữa. Ngay bây giờ phải đốt lò sưởi trong buồng ngủ để đêm nay khỏi lạnh cóng một cách không cần thiết”.
Nhưng chàng còn tự trò chuyện với mình như thế này: Người đẹp không sao quên được của anh ơi? Chừng nào vòng tay anh còn nhớ đến em, chừng nào em còn trên tay và bên môi anh, thì anh vẫn ở bên em. Anh sẽ hoà những giọt nước mắt thương nhớ em trong một cái gì xứng đáng, để lại mãi mãi.
Anh sẽ ghi lại kỷ niệm về em trong cách miêu tả dịu dàng, hết sức dịu dàng và đượm buồn. Anh sẽ ở lại đây khi chưa làm xong việc đó. Và rồi chính anh cũng sẽ ra đi. Đây, anh sẽ diễn tả em như thế này. Anh sẽ ghi lại những nét yêu kiều của em trên mặt giấy, như biển khơi,, sau một cơn bão khủng khiếp làm cho nó sôi sùng sục đến tận đáy, còn hằn lại trên cát những dấu vết của ngọn sóng thần mãnh liệt nhất, tràn vào bờ xa nhất. Biển ném rong rêu, vỏ sò ốc, nút chai, đá bọt, cả những cái nhẹ nhất mà nó có thể từ dưới đáy biển hất lên, thành một hàng ngoằn ngoèo, đứt đoạn trên bờ cát. Đó là giới hạn của lớp thủy triều dâng cao nhất trải dài tít tắp ven bờ.
Bão tố cuộc đời đã xô giạt em đến với anh cũng hệt như thế đấy, ôi niềm kiêu hãnh của anh. Đấy, anh sẽ miêu tả em như vậy”
Chàng bước vào nhà, đóng cửa lại, cởi áo lông. Lúc chàng bước vào cái phòng ngủ mà sáng nay Lara đã từng xếp dọn rất gọn ghẽ và chăm chút, sau đó trở nên bừa bộn vì bị lục tung lên lúc nàng hấp tấp chuẩn bị ra đi, khi chàng nhìn thấy đống chăn gối xô lệch và các đồ vật bị quăng vứt bừa bãi, ngổn ngang trên sàn nhà, trên mấy chiếc ghế, thì chàng quỳ xuống, ép ngực vào cái thành giường cứng ngắc, gục mặt vào góc chiếc gối lông chim mà khóc sướt mướt và cay đắng như một đứa bé.
Một lát sau, chàng đứng dậy, lau vội nước mắt, ngơ ngác và lơ đãng, mệt mỏi và bơ phờ nhìn quanh, chàng cầm lấy chai rượu mà Komarovski để lại, mở nút, rót ra lưng cốc, pha thêm nước có lẫn tuyết và bắt đầu thong thả, thèm thuồng uống từng ngụm rượu pha ấy với mềm khoan khoái gần như ngang với những giọt nước mắt vừa chảy ròng ròng không gì ngăn lại được.
Có một cái bất thường xảy ra với Zhivago. Chàng mất trí dần dần, chậm rãi. Chưa bao giờ chàng sống theo cái lối kỳ cục như thế này. Chàng bỏ bê nhà cửa, ngừng quan tâm đến bản thân, biến đêm thành ngày và mất ý niệm về thời gian kể từ buổi Lara đi.
Chàng uống rượu và làm thơ tặng Lara, nhưng chàng càng sửa chữa và thay thế các từ ngữ bao nhiêu, thì nàng Lara trong thơ và trong sổ ghi của chàng càng xa dần hình ảnh đích thực ban đầu của nàng, xa dần nàng Lara sống động, mẹ của Katenka, đã mang con ra đi, bấy nhiêu.
Zhivago gạch xoá, sửa chữa như thế là để diễn tả chính xác và mạnh mẽ hơn, nhưng cũng là để cho phù hợp với việc chế ngự nội tâm, không cho phép bộc lộ quá rõ những cảm xúc riêng tư và dĩ vãng có thực, không chút bịa đặt, để khỏi động chạm hoặc làm tổn thương những ai trực tiếp liên quan đến các cảm xúc và dĩ vãng ấy. Thế là những cái hoàn toàn thiết thân, cái còn đang bốc khói và nóng hổi bị gạt ra khỏi các bài thơ, những cái đang rỉ máu và nhức nhối phải nhường chỗ cho tầm rộng lớn thanh thản đã nâng trường hợp đặc thù lên bình diện phổ quát mà ai cũng thấy quen thuộc. Chàng chưa đạt tới mục tiêu ấy, nhưng cái tầm rộng lớn đó tự nó đến như một niềm an ủi mà Lara đang trên đường đi xa gửi riêng về cho chàng, như lời chào xa xăm của nàng, như hình ảnh nàng hiện ra trong giấc mộng hoặc như bàn tay nàng chạm vào trán chàng trở nên cao cả ấy. Sau những vần thơ khóc tặng Lara, chàng cũng hoàn tất những ghi chép lung tung, mà chàng từng thực hiện vào các thời gian khác nhau, về trăm thứ bà rằn, về thiên nhiên, về cuộc sống hàng ngày. Cũng như trước đây, hằng hà sa số ý nghĩ về cuộc sống cá nhân và cuộc sống xã hội lạ ập đến trong đầu chàng cùng một lúc hoặc lần lượt thoáng qua. Chàng lại nghĩ rằng chàng hình dung lịch sử, cái được mệnh danh là tiến trình lịch sử, hoàn toàn khác với quan mệm chung của mọi người, và lịch sử đã được vẽ ra trước mắt chàng như đời sống của thế giới thảo mộc. Mùa đông dưới tuyết, những cái cành trụi lá của rừng cây thông khẳng khiu và đáng thương như mấy sợi lông trên nốt ruồi của một cụ già. Mùa xuân, chỉ trong vài ngày, rừng cây thay hình đổi dạng, vươn cao lên tận mây và người ta có thể ẩn mình hay lạc lối trong cái mê cung rậm rạp của nó. Sự biến hoá ấy được tựu thành nhờ một sự vận động nhanh hơn hẳn sự vận động của động vật, bởi vì động vật không lớn nhanh như cây cỏ, hơn nữa người ta không thể nhìn trộm để thấy sự vận động của thực vật Rừng không chuyển dịch đi lại, ta không tài gì rình rập để bắt quả tang sự thay đổi vị trí của rừng. Bao giờ chúng ta cũng thấy rừng đứng im một chỗ. Và cũng chính trong trạng thái tưởng như bất động ấy, chúng ta lại bắt gặp đời sống xã hội và lịch sử cứ mãi lớn lên, mãi mãi biến đổi mà chẳng ai theo dõi được các sự biến hoá của nó.
Tolstoy chưa đưa tư tưởng của ông tới cùng, khi ông phủ nhận vai trò người chủ xướng của Napoléon, của các vua chúa và tướng lĩnh. Ông cũng đã nghĩ đúng như vậy, nhưng chưa nói trọn điều đó cho thật rõ ràng, hoàn toàn rõ ràng. Không ai làm nên lịch sử, không ai trong thấy lịch sử, hệt như không thể trông thấy cỏ đang mọc như thế nào; các cuộc chiến tranh, các cuộc cách mạng, các Rôbexpie đều là chất xúc tác hữu cơ, chất men của lịch sử. Các cuộc cách mạng được sản sinh bởi những con người hành động, những người cuồng tín một chiều, những thiên tài biết tự hạn chế. Chỉ trong vài giờ hoặc vài ngày họ lật nhào thể chế cũ. Các cuộc chính biến kéo dài hàng tuần, nhiều khi hàng năm, sau đó suốt hàng thế kỷ người ta còn thờ phụng cái tinh thần hạn chế, một thứ hạn chế đã dẫn tới cuộc chính biến, như thờ phụng thần thánh”.
Trong khi khóc lóc thương nhớ Lara, chàng cũng khóc thương cái mùa hè xa xôi ở Meliuzev, khi cách mạng lúc bấy giờ như là thượng đế giáng trần, như là Thiên Chúa của mùa hè đó, và mỗi người nổi điên theo kiểu riêng của mình, và cuộc sống của mỗi người cứ tồn tại tự nó, chứ không mang tính chất minh hoạ, giải thích để xác nhận lẽ phải của thứ chính trị tối cao.
Trong khi bận rộn phác họa những ý tưởng rất khác nhau như thế, chàng lại kiểm chứng và ghi nhận rằng nghệ thuật bao giờ cũng phụng sự cái đẹp, còn cái đẹp là diễm phúc được có một hình thức, còn hình thức là cái chìa khoá hữu cơ của đời sống, mọi sinh vật phải nắm được hình thức để tồn tại, bởi thế nghệ thuật, trong đó kể cả bi kịch, đều là câu chuyện về diễm phúc tồn tại. Những suy tưởng và ghi chép ấy cũng đem lại hạnh phúc cho chàng, một hạnh phúc bi thảm và đầy nước mắt, đến nỗi nó làm cho chàng mệt mỏi và nhức cả đầu.
Samdeviatov đến thăm Zhivago. Ông ta cũng đem Vodka tới và kể cho chàng nghe chuyện hai mẹ con Lara khởi hành cùng với Komarovski. Samdeviatov đến bằng đường xe lửa, trên một chiếc ô tô ray. Ông ta nặng lời trách móc Zhivago không săn sóc con ngựa Savraska và đã đem nó đi, mặc dù chàng cố nài ông ta để lại cho chàng mượn vài ba hôm nữa. Để bù lại, ông ta hứa vài ngày sau sẽ đích thân đến đón chàng và đưa chàng đi khỏi hẳn Varykino.
Đôi lúc sau khi làm việc, ghi chép một hồi, Zhivago bỗng chợt nhớ đến người phụ nữ đã ra đi, nhớ một cách hết sức rõ ràng, đến mức chàng mê đi vì cảm giác âu yếm và nỗi đau gay gắt của sự mất mát. Cũng như thuở còn thơ, giữa cảnh huy hoàng của thiên nhiên mùa hè, trong tiếng chim chóc líu lo chàng từng như nghe văng vẳng tiếng người mẹ đã qua đời gọi chàng, thì ngày nay, tai chàng đã quá quen nghe tiếng Lara, còn đầy giọng nói của nàng, thỉnh thoảng lại đánh lừa chàng. Chốc chốc chàng lại nghe như có tiếng từ phòng bên vẳng sang: “Anh Yuri yêu dấu?”.
Trong tuần lễ này, chàng còn bị các giác quan đánh lừa mấy lần theo kiểu khác. Một đêm cuối tuần, chàng bất chợt tỉnh dậy sau một cơn ác mộng nặng nề và vô lý, rằng có một cái hang rồng ở dưới nhà nàng. Chàng mở mắt ra. Đột nhiên đáy khe núi lóe lên ánh lửa và dội lại tiếng vang chát chúa của một phát súng ai đó vừa nổ. Điều lạ lùng là chỉ một phút sau biến cố khác thường ấy, chàng lại ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, chàng quả quyết đấy chỉ là chàng nằm mơ.
Đấy là chuyện xảy ra ít lâu sau. Cuối cùng Zhivago cũng phải nghe theo tiếng nói của lý trí. Chàng tự nhủ rằng nếu đã đề ra cho mình mục đích tìm đến cái chết với bất cứ cách nào, thì có thể sử dụng phương cách vừa đem lại tác dụng nhanh hơn vừa đỡ đau khổ hơn. Chàng tự hứa là ngay sau khi Samdeviatov tới đón chàng, chàng sẽ rời bỏ nơi này tức thì.
Trước khi trời chập choạng tối, chàng nghe có tiếng bước chân ai đó lạo xạo trên tuyết khá rõ. Một người nào đó đang thản nhiên đi về phía nhà chàng với bước chân quả quyết và mạnh mẽ.
Quái lạ. Người đó có thể là ai nhỉ? Nếu là Samdeviatov, hẳn ông ta phải đến bằng xe ngựa. Varykino thì hoàn toàn hoang vắng, chẳng có ma nào qua lại. Chàng nghĩ: “Chắc người ta đến kiếm mình. Có trát gọi hoặc yêu cầu mình về thành phố, hoặc họ bắt giữ mình. Nhưng nếu thế thì họ chở mình bằng phương tiện gì? Và họ phải có hai người kia. Thôi, đúng là Mikulisyn rồi”. Chàng mừng rỡ phỏng đoán, khi tưởng rằng mình đã nhận ra bước chân của khách. Người lạ mặt, mà danh tính còn là điều bí ẩn, tạm đừng một lát trước cánh cửa đã bị mất ổ khoá mà hắn chờ đợi, đoạn hắn đi tiếp với bước chân tự tin như thể hắn đã biết rõ ngôi nhà này, hắn mở tất cả các cửa mà hắn gặp và cẩn thận khép lại sau lưng như một ông chủ.
Zhivago đang ngồi bên bàn viết, quay lưng ra cửa, trong lúc những sự việc lạ lùng ấy diễn ra: Chàng đứng lên, ngoảnh mặt lại để đón kẻ lạ mặt, thì kẻ đó đã đứng sững như trời trồng ở ngưỡng cửa.
“Ông hỏi ai?” – Zhivago thốt lên như một cái máy câu hỏi ước lệ ấy, và chàng cũng chẳng ngạc nhiên, khi không nghe thấy tiếng trả lời.
Kẻ vừa bước vào là một người đàn ông khỏe mạnh, cân đối, có khuôn mặt điển trai, mặc áo bludông và quần bằng lông thú, đi đôi ủng da dê ấm áp, vai đeo một khẩu súng trường.
Chỉ có khoảnh khắc xuất hiện của kẻ lạ là bất ngờ đối với Zhivago, chứ không phảị cái sự hắn ta tới đây. Những vật dụng chàng đã tìm thấy trong nhà và các dấu hiệu khác đã chuẩn bị cho chàng đón nhận cuộc gặp mặt này. Kẻ vừa bước vào hiển nhiên là chủ nhân của những vật dụng dự trữ sẵn trong nhà.
Chàng thấy diện mạo hắn ta quen quen, đã gặp ở đâu đó. Chắc vị khách cũng đã được báo trước rằng, nhà này chẳng phải bỏ hoang. Hắn không mấy ngạc nhiên về chuyện trong nhà có người ở. Có lẽ hắn đã biết trước hắn sẽ gặp ai. Hắn đã biết chàng rồi cũng nên, “Hắn là ai nhỉ? Hắn là ai nhỉ?” – Zhivago cố moi óc để nhớ.
“Trời ơi, mình đã gặp hắn ở đâu nhỉ? Liệu có thể như vậy ư?
Một buổi sáng tháng năm oi bức, năm nào thì quên mất rồi. Ga xe lửa Rezvilie. Trên toa tàu không hứa hẹn điều gì tốt lành của viên tư lệnh. Những quan điểm rõ rệt, tính thẳng thừng, những nguyên tắc cứng rắn, lẽ phải, lẽ phải, lẽ phải, Strelnikov?”.
Họ nói chuyện với nhau đã lâu, hàng mấy giờ liền, chỉ những người Nga ở nước Nga mới nói chuyện như thế, đặc biệt như tất cả những người hoảng hốt và buồn phiền, những người điên rồ và cuồng nhiệt từng sống ở nước Nga thời đó vẫn nói.
Trời đã tối dần.
Ngoài cái chứng hay chuyện, không chịu ngồi yên, mà Strelnikov mắc phải như hết thảy mọi người, anh ta còn có một lý do riêng nào đấy để nói huyên thuyên luôn miệng.
Anh ta nói mãi không biết chán và bằng mọi cách cứ bám riết lấy câu chuyện với bác sĩ để khỏi cô đơn. Phải chăng anh ta sợ những sự cắn rứt lương tâm hay những hồi ức buồn rầu cứ ám ảnh mãi anh ta, hoặc anh ta bị hành hạ bởi sự không hài lòng về bản thân mình, tới mức khi ấy con người căm ghét bản thân mình hết sức và sẵn sàng chết vì hổ thẹn? Hoặc giả anh ta đã có một quyết định đáng sợ nào đó, không thay đổi được nó, mà anh ta không muốn đương đầu với nó một mình, mà anh ta đang cố trì hoãn việc thi hành bằng cách ngồi tán chuyện dông dài với bác sĩ?
Dầu sao đi nữa Strelnikov cũng giấu kín một bí mật quan trọng nào đó vẫn đè nặng lên anh ta, trong khi anh ta càng ra sức thổ lộ ào ạt tất cả những gì khác.
Đó là căn bệnh của thế kỷ, sự điên rồ cách mạng của thời đại. Hết thảy mọi người nghĩ một đằng, nhưng nói và làm một nẻo. Không một ai thấy lương tâm trong sạch. Mỗi người đều có căn cứ để tự cảm thấy mình có lỗi trong mọi chuyện, mình là tên tội phạm bí mật, kẻ lừa dối chưa bị lộ tẩy. Chỉ cần xuất hiện một cái cớ, lập tức trí tưởng tượng sẽ tha hồ tự hành hạ mình đến hết mức. Người ta tưởng tượng ra đủ thứ, tự buộc tội mình không chỉ vì áp lực của nỗi sợ hãi, mà còn vì sự say sưa mang tính chất phá hoại, thiếu lành mạnh, theo ý muốn của họ trong trạng thái thôi miên siêu hình, trong sự ham mê tự lên án mình, mà khi đã sa vào thì không sao ngăn lại được.
Hồi còn là một vị chỉ huy quân sự cấp cao, đôi khi là thẩm phán toà án quân sự, Strelnikov đã đọc và nghe biết bao lời khai trước khi chết, bằng giấy hoặc bằng miệng, của người khác. Giờ đây chính anh ta cũng đang lên cơn bệnh tự tố cáo mình hệt như thế, đang đánh giá lại toàn bộ con người mình, đang tổng kết lại toàn bộ, nhìn nhận mọi thứ trong sự bóp méo dị dạng của cơn mê sảng.
Strelnikov kể lộn xộn, cứ nhảy từ lời tự thú này sang lời tự thú kia.
– Chuyện ấy xảy ra ở ngoại ô thành phố Trita. Chắc ông ngạc nhiên lắm khi thấy những vật lạ mà tôi nhét đầy các ngăn kéo bàn và tủ trong ngôi nhà này. Tất cả đều là chiến lợi phẩm mà chúng tôi thu được khi Hồng quân chiếm miền Đông Sibiri. Dĩ nhiên, không phải một mình tôi mang các thứ ấy đến đây. Đời đã luôn luôn chiều chuộng tôi bằng cách dành cho tôi những người tâm phúc. Những cây nến, hộp diêm, cà phê, trà, dụng cụ văn phòng, vân vân, ấy đều là tài sản quân đội, một phần của quân Tiệp, một phần của quân Anh và quân Nhật. Ngoài sức tưởng tượng, phải vậy không ông? “Phải vậy không anh” là câu nói cửa miệng của vợ tôi, chắc ông cũng đã nhận thấy như thế. Hồi nãy tôi không biết có nên nói ngay điều này với ông hay không, nhưng bây giờ thì tôi xin thú thật. Tôi đến đây để gặp vợ và con gái tôi. Người ta báo cho tôi quá muộn, rằng hai mẹ con nàng hình như ở đây. Và thế là tôi đã chậm chân. Cái hồi tôi nghe người ta đồn đại và báo cáo về sự gần gũi của ông với nàng và khi lần đầu nghe họ nhắc đến cái tên “bác sĩ Zhivago”, thì trong số hàng ngàn khuôn mặt đã thoáng qua trước tôi những năm ấy, kỳ lạ thay, tôi chợt nhớ ra đấy là người bác sĩ đã có lần bị dẫn đến để tôi hỏi cung.
– Và ông đã tiếc vì không xử bắn hắn ta?
Strelnikov không để ý đến câu hỏi đó. Có lẽ thậm chí anh ta chẳng nghe thấy câu ngắt lời của người đối thoại. Anh ta tiếp tục cuộc độc thọại với vẻ mặt lơ đãng và trầm tư.
– Dĩ nhiên tôi đã ghen với ông và bây giờ cũng vẫn ghen. Có thể khác được chăng? Tôi mới chỉ về vùng này ẩn nấp mấy tháng nay, khi những chỗ lẩn trốn khác của tôi ở xa mãi về phía Đông đã bị lộ hết. Căn cứ vào một số lời tố giác sai, người ta định đưa tôi ra toà án quân sự. Kết cục của chuyện đó, có thể dễ dàng đoán biết. Tôi không thấy mình có tội gì hết. Tôi đã hy vọng sau này, khi hoàn cảnh tốt đẹp hơn, tôi sẽ được minh oan và bảo toàn được thanh danh của mình. Tôi bèn quyết định lánh mặt kịp thời để khỏi bị bắt, và trong lúc chờ đợi tôi phải lang thang ẩn trốn, sống cách biệt với mọi người. Có lẽ rồi cuối cùng tôi cũng sẽ thoát nạn, nếu như không bị một gã thanh niên đốn mạt được tôi tin cậy bán rẻ tôi.
Chuyện đó xảy ra hồi mùa đông, khi tôi cuốc bộ băng qua miền Sibiri, hướng sang phía Tây, vừa đi vừa lẩn trốn, nhịn đói nhịn khát. Tôi vùi mình trong các đống tuyết, ngủ đêm trong những toa tàu bị tuyết phủ hồi đó nằm rải rác trên khắp tuyến đường xe lửa xuyên Sibiri.
Những ngày lang thang đã đưa đẩy tôi gặp một thằng khố rách áo ôm. Nó khoe đã thoát một cuộc xử bắn tập thể của quân du kích. Nó chỉ bị thương, đã bò ra khỏi đống thây người, ẩn náu trong rừng cho lại sức, sau đó nó bắt đầu lang bạt lẩn lút hết hang này đến hố nọ như tôi. Ít ra đấy là theo lời hắn kể.
Một thằng nhãi ranh đê tiện, tội lỗi, lạc hậu, một thằng dốt nát, học đúp nhiều năm và bị đuổi cổ khỏi trường trung học.
Strelnikov càng kể thêm chi tiết, Zhivago càng cảm thấy chàng nhận dần ra gã trai ấy.
– Tên nó là Teresa Galudin thì phải?
– Đúng đấy.
– Thế thì tất cả những lời nó kể về quân du kích và vụ xử bắn là đúng. Nó không bịa đâu.
– Điểm đáng yêu duy nhất của thằng nhỏ ấy là nó yêu mẹ nó hết mức. Cha nó bị bắt làm con tin và biệt tích luôn. Nó nghe tin mẹ nó ngồi tù và sắp phải chia sẻ số phận với cha nó, nên nó quyết tâm làm tất cả mọi việc để giải thoát cho mẹ nó. Nó đã đến tự thú và xin được thu dụng ở ban Cheka một huyện nọ. Người ta đồng ý tha thứ mọi tội lỗi cho nó với điều kiện nó phải nộp cho họ một con mồi lớn. Nó bèn chỉ điểm chỗ ẩn trốn của tôi. Tôi đã đoán trước sự phản bội của nó và đã biến đi kịp thời.
Nhờ những nỗ lực phi thường, sau cả ngàn cuộc phiêu lưu mạo hiểm, tôi đã vượt qua miền Sibiri, lần mò về đây, về nơi mà ai ai cũng biết tôi từ lâu, song sẽ là nơi bất ngờ nhất vì họ không thể ngờ tôi lại bạo gan đến như vậy. Và quả thật họ vẫn đang lùng kiếm tôi ở vùng ngoại ô Trita, trong khi tôi đã mò vào ngôi nhà này hoặc các nơi lẩn trốn khác tại địa phương này. Nhưng bây giờ thì cùng đường rồi. Họ cũng đã lần ra dấu vết tôi cả ở đây ông hãy nghe tôi. Trời tối rồi. Sắp đến cái giờ mà tôi không ưa, bởi vì từ lâu tôi đã mất ngủ. Chắc ông biết căn bệnh ấy khổ sở như thế nào. Nếu ông chưa đốt hết các cây nến của tôi, những cây nến thật tuyệt, bằng bạch lạp chính hiệu, phải vậy không ông, thì ta hãy trò chuyện chừng nào ông còn chịu đựng được, với tất cả sự xa xỉ, suốt đêm, dưới ánh nên.
– Nến vẫn còn nguyên đó. Tôi mới chỉ mở có một bao. Tôi toàn dùng đèn dầu hoả mà tôi tìm thấy ở đây.
– Ông có bánh mì chứ?
– Không.
– Thế ông sống bằng gì? À mà tôi hỏi một câu thật ngớ ngẩn? Bằng khoai, tôi biết.
– Đúng vậy. Khoai ở đây thì tha hồ. Các chủ nhân của khu nhà này là những người giàu kinh nghiệm và biết lo xa. Họ biết cách bảo quản khoai. Toàn bộ số khoai còn tốt nguyên ở dưới nhà hầm. Không bị mốc thối hoặc cứng lạnh.
Đột nhiên Strelnikov quay sang nói về cách mạng.
– Tất cả những điều tôi sắp nói với ông đây, ông không hiểu nổi đâu. Ông đã sống theo lối khác. Có một thế giới của các vùng ngoại ô, thế giới các đường xe lửa và xóm thợ. Rác rưởi, chật chội, nghèo đói, nhân cách của người lao động bị lăng mạ, người phụ nữ bị khinh khi rẻ rúng. Có sự trâng tráo không hề bị trừng phạt của sa đoạ và trác táng, của các gã công tử bột, của đám sinh viên con nhà giàu. Người ta pha trò hoặc nổi giận khinh bỉ trước những giọt nước mắt và lời thở than của những kẻ bị ăn cướp, bị sỉ nhục, bị lăng mạ. Quyền thống trị thuộc về những kẻ ăn bám lười biếng, những kẻ chỉ nổi bật ở chỗ chúng không bận tâm gì hết, không tìm gì hết, không đem tới hoặc để lại một cái gì tốt đẹp cho cuộc sống?
Còn chúng tôi, chúng tôi chấp nhận cuộc đời như một cuộc hành quân, chúng tôi dời non lấp biển vì lợi ích của những người chúng tôi yêu. Và mặc dù chúng tôi không đem lại cho họ được điều gì, ngoài sự đau khổ, chúng tôi không mảy may xúc phạm họ, bởi vì chúng tôi còn chịu hy sinh cực khổ hơn họ nhiều.
Nhưng trước khi tôi nói tiếp, tôi thấy mình có bổn phận báo với ông điều này. Sự thể như sau. Ông nên đi khỏi nơi đây, chớ nên trì hoãn, nếu ông còn ham sống. Vòng vây quanh tôi đang siết chặt, và dù nó kết thúc ra sao đi nữa, thì ông cũng bị liên lụy, ông đã dính đến hồ sơ về tôi chỉ bởi nguyên cái việc là ông ngồi nói chuyện với tôi. Ngoài ra, ở đây có nhiều chó sói, mới rồi tôi đã phải bắn chúng để tự vệ.
– À, thì ra là ông bắn?
– Vâng. Chắc ông đã nghe thấy. Lúc ấy tôi đang đi tới một chỗ ẩn náu khác, nhưng gần đến nơi, căn cứ vào các dấu hiệu khác nhau, tôi hiểu chỗ ấy đã bị lộ, và chắc rằng những người ở đó hẳn đã bị giết. Tôi sẽ lưu lại ở nhà ông chóng thôi, chỉ qua đêm nay, sáng mai tôi sẽ đi liền. Vậy xin phép ông, tôi kể tiếp:
Nhưng phải chăng những khu phố mờ ám, những cỗ xe sang trọng chở gái của bọn công tử ăn diện phóng như bay chỉ có ở Moskva, chỉ có ở nước Nga? Phố phường, phố phường ban đêm, phố phường ban đêm của thế kỷ, những con ngựa béo tốt thì ở đâu mà chả có. Cái gì đã thâu gộp thời đại này, cái gì đã gộp thế kỷ 19 thành một chương mục trong lịch sử. Đó là sự phát sinh tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Những cuộc cách mạng đã nổ ra, những thanh niên giàu lòng hy sinh đã leo lên các chiến lũy. Các nhà chính luận cố vắt óc nghĩ cách kiềm chế sự trâng tráo hèn hạ của đồng tiền, đề cao và bảo vệ nhân phẩm của người nghèo. Chủ nghĩa Marx xuất hiện. Nó tìm ra căn nguyên của cái ác và phương thuốc chữa trị. Nó đã trở thành sức mạnh hùng hậu của thế kỷ. Nào rác rưởi, nào ánh hào quang thánh thiện, nào sự truỵ lạc, nào các khu thợ thuyền, những bản tuyên ngôn và những chiến luỹ, tất cả đều phát sinh từ các khu phố mờ ám của thế kỷ.
Chà, nàng xinh đẹp biết mấy khi còn là một thiếu nữ, một nữ sinh trung học? Ông chẳng biết gì đâu. Nàng thường đến chơi với cô bạn gái của nàng sống trong khu nhà của nhân viên đường xe lửa Brest. Hồi đó tuyến đường ấy mang tên như vậy, sau này đã bị đổi tên mấy lần. Cha tôi, hiện là thẩm phán toà án quân sự Yuratin, bấy giờ làm thợ cả ở khu vực nhà ga.
Tôi hay lui tới khu nhà kia và thường gặp nàng ở đó. Nàng còn là một thiếu nữ, một cô bé, nhưng đã có thể đọc thấy trên vẻ mặt và ánh mắt nàng tư tưởng căng thẳng, nỗi lo âu của thời đại Tất cả các đề tài của thời đại, toàn bộ nước mắt và sự hờn giận của thế kỷ, tất cả những thôi thúc, toàn bộ nỗi thù hằn chồng chất và niềm kiêu hãnh của thời đại đều được ghi trên khuôn mặt và trong dáng điệu của nàng, trong sự pha trộn giữa tính ngượng ngùng thanh tân và sự cân đối táo bạo của nàng. Có thể nhân danh nàng, qua đôi môi nàng mà đưa ra lời buộc tội thế kỷ. Ông phải đồng ý với tôi rằng đó không phải là chuyện tầm thường. Đó là thứ giống như một thiên chức, một phẩn thưởng quý giá. Phải có cái đó từ lúc bẩm sinh, phải có quyền mới được hưởng cái đó.
– Ông nói về nàng rất tài tình. Hồi ấy tôi đã được thấy nàng đúng như ông vừa tả. Cô nữ sinh trung học hoà hợp trong nàng với một nhân vật đang nắm giữ một bí mật không phải của trẻ con. Bóng nàng trải dài trên tường là sự vận động đầy lo âu để tự vệ Tôi đã thấy nàng như thế. Và tôi đang nhớ nàng đúng như thế. Ông vừa diễn tả điều đó rất tuyệt.
– Ông đã thấy nàng và đang nhớ nàng ư? Thế ông đã làm gì để được như vậy?
– Đó là một chuyện hoàn toàn khác.
– Thôi được. Không biết ông có thấy không, toàn bộ cái thế kỷ hai mươi này với tất cả các cuộc cách mạng của Paris, mấy thế hệ kiều dân Nga, bắt đầu từ Gersen 2, tất cả những mưu tính thủ tiêu Sa hoàng, không được thực hiện hoặc đã được thực hiện, toàn bộ phong trào công nhân thế giới, toàn bộ chủ nghĩa Marx trong các nghị viện và đại học đường châu âu, toàn bộ hệ thống tư tưởng mới, với tính cách tân kỳ và mau lẹ của những kết luận, sự giễu cợt, toàn bộ sự tàn nhẫn mang tính chất phụ trợ được đưa ra nhân danh tình thương, tất cả những cái đó điều được Lenin hấp thụ và thể hiện dưới dạng khái quát bởi con người mình, để đả phá mọi tội lỗi của cái cũ như một hiện thân của hình phạt.
Bên cạnh Lenin nổi lên hình ảnh cực kỳ lớn lao của nước Nga, một đất nước trước mặt toàn thế giới, đột nhiên bừng sáng ngọn nến chuộc tội cho mọi tai ương bất hạnh của loài người. Nhưng tôi nói tất cả những điều đó với ông để làm gì nhỉ? Bởi đối với ông, đó chỉ là tiếng não bạt chập cheng, chỉ là các âm thanh trống rỗng.
Vì cô thiếu nữ ấy, tôi đã vào đại học, vì nàng tôi đã trở thành nhà giáo và đến dạy học ở cái thành phố Yuratin mà hồi ấy tôi chưa hề biết đến nay. Tôi đã ngốn hàng đống sách và tích luỹ vô vàn kiến thức để có ích cho nàng và có thể giúp được nàng ngay khi nàng cần tới tôi. Tôi đã ra mặt trận, để sau ba năm thành hôn lại chinh phục được nàng, rồi sau khi chiến tranh kết thúc và từ trại tù binh trở về, tôi đã nhân cơ hội bị người ta coi như đã chết, đội một cái tên giả để hoàn toàn hiến mình cho cách mạng, để đền bù cho nàng tất cả những thiệt thòi nàng đã chịu đựng, để xoá sạch những kỷ niệm đáng buồn ấy để không còn phải quay lại quá khứ, để không còn những khu phố mờ ám nữa. Và trong khi ấy hai mẹ con nàng, nàng và con gái tôi, ở ngay bên cạnh, ngay trong thành phố thôi? Tôi đã tốn bao sức lực để kìm hãm ước muốn lao tới tấp tới gặp mẹ con nàng! Nhưng tôi muốn hoàn thành sự nghiệp của đời mình trước đã. Ôi, lúc này tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả để được nhìn mẹ con nàng dù chỉ một lần thôi. Mỗi khi nàng bước vào phòng, thì hệt như cửa sổ tự mở ra; căn phòng tràn ngập ánh sáng và khí trời.
– Tôi biết trước đây ông yêu quý nàng đến mức nào. Nhưng xin lỗi ông, ông có ý niệm gì về tình yêu của nàng đối với ông không?
– Xin lỗi, ông vừa nói gì?
– Tôi nói, ông có biết nàng yêu ông đến mức nào, nàng yêu ông hơn hết thảy mọi người trên đời, hay không?
– Ông căn cứ vào đâu mà nói như vậy?
– Chính nàng đã nói với tôi như vậy.
– Nàng nói với ông?
– Vâng…
– Xin lỗi. Tôi hiểu, lời cầu xin của tôi là quá quắt, nhưng nếu điều này nằm trong phạm vi sự khiêm nhường và nếu ông đủ sức xin ông vui lòng nhớ lại thật chính xác, đúng từng lời mà nàng đã nói với ông.
– Tôi sẵn sàng. Nàng đã gọi ông là mẫu mực về một con người mà nàng chưa thấy ai có thể sánh nổi, là người duy nhất vươn tới tầm cao thành thực, nàng nói rằng giả dụ nàng trông thấy ở góc ở góc biển chân trời một lần nữa hiện ra ánh đèn ngôi nhà mà nàng với ông từng chung sống, thì nàng sẽ quỳ xuống, lết bằng đầu gối đến ngưỡng cửa ngôi nhà đó, dù nàng đang ở bất cứ đâu đi nữa.
– Xin lỗi ông. Nếu điều này không động chạm tới một cái gì bất khả xâm phạm của ông, xin ông vui lòng nhớ lại, nàng đã nói câu ấy khi nào, trong hoàn cảnh nào?
– Lúc nàng đang dọn dẹp căn phòng này. Kế đó nàng mang tấm thảm ra rũ ngoài sân.
– Xin lỗi, tấm thảm nào ạ? Ở đây có hai tấm.
– Tấm lớn ấy.
– Một mình nàng không mang nổi nó. Ông đã giúp nàng chứ?
– Vâng.
– Mỗi người, ông và nàng, cầm một đầu tấm thảm. Nàng ngửa mặt ra phía sau, vung cao hai tay như trên một cây đu, nàng quay đầu để tránh bụi bay mù, nàng nheo mắt và cười ha hả phải không? Phải vậy không ông? Tôi biết thói quen của nàng quá mà? Sau đó hai người đi lại phía nhau, gấp tấm thảm lại thoạt đầu gập đôi, sau đó gập tư, và trong lúc làm việc đó, nàng luôn miệng nói đùa và nô giỡn chứ gì? Phải vậy không ông? Phải vậy không ông?
Họ đứng dậy, mỗi người đi ra một cửa sổ và nhìn về một hướng khác nhau. Sau vài phút im lặng, Strelnikov lại gần Zhivago. Anh ta cầm hai bàn tay bác sĩ áp lên ngực mình và nói tiếp nói bằng giọng vội vã như cũ:
– Xin lỗi ông, tôi hiểu rằng tôi động chạm đến một cái gì quý báu và thầm kín. Nhưng nếu có thể, tôi còn muốn được hỏi thêm ông. Chỉ xin ông chớ bỏ đi. Đừng để tôi lại một mình.
Chính tôi sắp ra đi rồi. Ông thử nghĩ, sau sáu năm xa cách, sáu năm chịu đựng ghê gớm. Nhưng tôi cứ tưởng vẫn chưa giành hoàn toàn tự do. Tôi cứ tự nhủ phải giành lấy tự do trước đã bấy giờ tôi sẽ hoàn toàn thuộc về hai mẹ con nàng, hai bàn tay tôi sẽ thảnh thơi hoàn toàn. Ai ngờ mọi công lao xây đắp của tôi đã tan thành mây khói. Ngày mai người ta sẽ bắt tôi. Ông là người thân thiết và gần gũi của nàng. Có lẽ một ngày kia ông sẽ gặp nàng. Nhưng thôi, tôi cầu xin làm gì kia chứ?
Thật là điên rồ. Người ta sẽ bắt tôi và không để cho tôi được biện minh. Họ sẽ lập tức vồ lấy tôi, họ sẽ la ó chửi bới mà bịt miệng tôi lại. Tôi lại không biết cái trò ấy diễn ra như thế nào hay sao?
Cuối cùng chàng cũng được một giấc ngủ thật sự. Lần đầu tiên sau bao ngày, Zhivago không để ý mình đã thiếp đi như thế nào, khi vừa đặt mình xuống giường. Strelnikov ngủ lại ở đây.
Chàng sắp xếp cho anh ta nằm ở phòng bên cạnh. Trong những giây phút ngắn ngủi, khi chàng tỉnh giấc để trở mình hoặc kéo cái chăn bị tuột xuống sàn, chàng cảm thấy sức mạnh bồi bổ của một giấc ngủ ngon và chàng lại khoan khoái thiếp đi. Vào khoảng nửa đêm về sáng, chàng mơ liên tiếp những giấc mơ ngắn về thời thơ ấu, những giấc mơ dễ hiểu và giàu chi tiết, rất dễ dàng coi là sự thực.
Chẳng hạn, chàng mơ thấy bức tranh thuốc nước của mẹ chàng vẽ cảnh bờ biển nước Ý, đang treo trên tường đột nhiên rơi xuống sàn và làm cho chàng thức giấc vì tiếng kính vỡ.
Chàng mở mắt ra. Không phải, đấy là tiếng động khác. Chắc là Pasa Antipop, chồng của Lara, tức Strelnikov, lại bắn dọa lũ chó sói trong khe Sutma, như lão Văc đã nói. Ồ không phải thế, vô lý quá. Đúng là bức tranh đã rớt khỏi tường. Các mảnh kính vỡ còn nằm trên sàn nhà kia kìa, chàng tin như thế trong lúc giấc mơ tiếp diễn trở lại.
Chàng thức giấc với cơn nhức đầu vì đã ngủ quá lâu. Một lúc sau chàng vẫn cứ lơ mơ không biết mình là ai và đang ở đâu, trong thế giới nào.
Đột nhiên chàng nhớ ra: “Ờ mà còn Strelnikov ngủ đêm nhà mình. Muộn lắm rồi. Mặc quần áo vào thôi. Chắc anh ta đã dậy, nếu chưa, mình sẽ đánh thức, sẽ đi pha cà phê để cùng uống với nhau”.
– Ông Pasa?
Không có tiếng trả lời. “Nghĩa là anh ta vẫn ngủ. Phải nói là ngủ như thế thì say khiếp thật”. Zhivago thong thả mặc quần áo và bước sang phòng bên cạnh. Chiếc mũ lông, loại mũ của kỵ binh, của Strelnikov nằm trên bàn, nhưng anh ta không có ở trong nhà. “Chắc anh ta đang đi dạo”. – Zhivago nghĩ thầm. “Đi dạo ngoài trời băng giá mà để đầu trần. Một cách rèn luyện. Lẽ ra hôm nay mình nên giã từ vĩnh viễn Varykino và trở về thành phố, nhưng bây giờ muộn rồi. Lại ngủ quên. Sáng nào cũng dậy trễ”.
Zhivago nhóm lửa trong bếp lò, xách cái thùng ra giếng lấy nước. Cách thềm nhà mấy bước, xác Strelnikov nằm nghiêng chắn ngang lối đi, đầu vùi vào một đống tuyết. Anh ta tự sát. Tuyết đẫm máu, thành một cục đỏ, đã khô lại dưới thái dương bên trái anh ta. Những giọt máu nhỏ văng ra xung quanh hoà lẫn với tuyết thành những trái cầu đỏ tí hon, trông như các trái thanh lương trà bị đóng băng.
1 Giống ngựa ở vùng núi thuộc châu Âu của nước Nga, dáng thấp, có sức chịu đựng dẻo dai phi rất nhanh. (Các bản dịch khác dịch là giống ngựa Sibiri, không đúng).
2 Gersen A. I. (1812 – 1870 ), nhà cách mạng nhà văn nhà triết học Nga.
Trước
image
Chương 14
  • Chương 1
  • Chương 2
  • Chương 3
  • Chương 4
  • Chương 5
  • Chương 6
  • Chương 7
  • Chương 8
  • Chương 9
  • Chương 10
  • Chương 11
  • Chương 12
  • Chương 13
  • Chương 14
  • Chương 15
  • Chương 16
Tiếp

TRUYỆN ĐỀ CỬ

Loading...
error: Content is protected !!