BERNDT ĐI BỘ phía trước xe trên con đường rừng, trông chừng giữ an toàn cho mặt con ngựa, chốc chốc lại giơ cây đoản thương Thụy Sĩ dẹp bớt những cành cây quá um tùm.
Thầy Jakov cưỡi ngựa theo sau, hai bên túi yên chất đầy sách. Anh ta không quen cưỡi ngựa nên cứ phải bám rịt lấy cổ con ngựa lúc đi bên dưới những cành cây to.
Thỉnh thoảng, gặp chỗ đường dốc, anh ta lại xuống ngựa phụ Lothar, Berndt và bá tước Lecter đẩy xe. Ngay khi họ vừa đi qua, các cành cây lại vun vút bật ngược về phía sau, tiếp tục chặn con đường lại.
Hannibal ngửi mùi cây cỏ bị nghiến dưới bốn bánh xe và mùi mái đầu ấm áp của Mischa bên dưới cằm nó – con bé lúc này đang ngồi trong lòng anh trai. Thằng bé dõi nhìn những chiếc máy bay ném bom của Đức băng qua bầu trời trên cao. Những vệt khói trắng ở đuôi máy bay vạch thành một khuông nhạc và Hannibal ngâm nga cho em gái nghe những nốt nhạc mà các cụm khói đen của hỏa lực phòng không đã vẽ lên trời. Giai điệu này không được vừa ý cho lắm.
“Không.” Mischa nói. “Anniba hát bài Das Mannlein* cơ!” Vậy là hai anh em đồng thanh ca vang về người đàn ông bé nhỏ bí ẩn trong rừng, người vú nuôi cũng hòa giọng trong chiếc xe lắc lư còn thầy Jakov hát trên lưng ngựa, mặc dù anh ta không mấy thích thú khi hát bằng tiếng Đức.
“Gã nhỏ bé đứng trong rừng, tĩnh lặng
Tuyền đỏ thẫm một sắc áo choàng
Gã nhỏ bé ấy có thể là ai
Mà lại khoác áo choàng tuyền thắm đỏ
Một mình đứng trong rừng thẳm thế kia.”
(*) Bài hát thiếu nhi tiếng Đức Ein Mannlein steht im Walde (Gã nhỏ bé trong rừng). Bài hát vốn là về quả tầm xuân, nhưng có thể gợi ra các liên tưởng khác.
* * *
Sau hai tiếng đồng hồ chật vật, họ tới một khoảnh rừng thưa bên dưới tán rừng cao vòi vọi.
Trong hơn ba trăm năm tồn tại, căn nhà nghỉ đã chuyển mình từ một nơi trú ẩn thô sơ thành một chốn ẩn dật tiện nghi giữa rừng, khung gỗ, mái dốc tiện cho tuyết trượt xuống. Có một chuồng ngựa nhỏ hai ngăn, một gian nhà phụ và, đằng sau nhà nghỉ, một nhà vệ sinh mang phong cách thời Victoria với những hình chạm khắc hào nhoáng, mái nhô lên nhìn thấy rõ phía trên hàng rào kín.
Trên nền móng căn nhà nghỉ vẫn còn trông thấy những viên đá từ một bệ thờ rắn dựng lên vào thời Trung Cổ.
Giờ Hannibal đang nhìn theo một con rắn chạy trốn khỏi ngôi nhà cổ trong lúc Lothar chặt bớt đám cây leo để chị vú có thể mở cửa sổ ra.
Bá tước Lecter đưa hai bàn tay vuốt ve con ngựa to lớn trong lúc nó uống mấy lít nước đựng trong xô múc nước giếng. “Berndt này, đến lúc anh quay về tới nhà thì Cook hẳn đã đóng gói đồ đạc trong bếp xong xuôi rồi. Cesar có thể nghỉ ngơi một đêm trong chuồng. Ngay khi trời rạng, anh và Cook lên đường quay lại đây luôn nhé, đừng lần lữa. Tôi muốn các anh dọn sạch lâu đài trước sáng mai.”
* * *
Vladis Grutas bước vào sân tòa lâu đài Lecter, khuôn mặt lộ rõ vẻ hân hoan, mắt quét khắp lượt các cửa sổ. Y vẫy tay nói to, “Xin chào!”
Grutas vóc người nhỏ bé, tóc vàng hoe bết bẩn, mặc quần áo thường dân, đôi mắt xanh lơ nhạt màu đến độ trông không khác gì hai cái đĩa tròn tách ra từ bầu trời thăm thẳm. Y gọi to, “Xin chào, có ai ở nhà không!” Không thấy ai trả lời, y đi vào bếp, thấy các rương hòm đựng đồ ăn thức uống dự trữ đã được đóng buộc gọn gàng xếp trên sàn bếp. Y nhanh tay bỏ cà phê và đường vào trong túi đeo. Cửa xuống hầm đang mở. Y nhìn xuống dãy cầu thang dài, thấy ánh đèn hắt lên.
Từ thuở hồng hoang, hành vi xâm phạm vào hang ổ của một sinh vật khác đã là điều cấm kị. Nhưng đối với một số kẻ đầu óc lệch lạc, việc lén lút lẻn vào tư gia của người khác lại khơi dậy một cảm giác hưng phấn tê dại, y như lúc này đây.
Grutas leo xuống cầu thang, tiến vào bầu không khí mát lạnh dưới lòng đất của những căn hầm mái vòm trong lâu đài. Y săm soi nhòm qua một khung cửa tò vò, thấy tấm lưới sắt bảo vệ hầm rượu đang để mở.
Tiếng sột soạt vang lên đâu đó. Grutas có thể nhìn thấy những giá để rượu có dán nhãn ốp kín tường từ sàn lên đến tận trần, được chất đầy các chai rượu và cái bóng đồ sộ của gã đầu bếp đang di chuyển quanh phòng, bận rộn làm việc dưới ánh sáng của hai chiếc đèn xách tay. Nhiều gói đồ vuông vắn được đặt trên bàn nếm rượu nằm chính giữa phòng và bên cạnh chúng là một bức tranh nhỏ lẻ loi lồng trong một khung tranh hoa mỹ.
Grutas ngoác miệng cười khi thằng cha đầu bếp to con lọt vào tầm nhìn. Lúc này, gã đầu bếp đang lúi húi phía trên bàn, tấm lưng rộng quay lại phía cửa. Tiếng giấy sột soạt.
Grutas dán người vào tường, khuất trong bóng cầu thang.
Gã đầu bếp bọc giấy quanh bức tranh rồi buộc dây lại, làm thành một gói đồ giống như những gói đồ khác. Một tay xách cây đèn, gã rướn người kéo ngọn chúc đài treo bên trên bàn nếm rượu. Một tiếng cạch vang lên và ở phía cuối hầm rượu, một giá rượu lắc lư nhích khỏi tường vài phân. Gã đầu bếp đẩy cái giá ra xa khỏi bức tường, tiếng bản lề kêu cọt kẹt. Đằng sau cái giá là một cánh cửa.
Cook tiến vào gian hầm bí mật phía sau hầm rượu, treo một cây đèn lên. Rồi gã bê các gói đồ vào bên trong.
Canh lúc gã đẩy cái giá rượu lắc lư đóng lại, lưng quay về phía cửa, Grutas bèn leo lên cầu thang. Y nghe thấy tiếng súng vang lên bên ngoài, rồi giọng gã đầu bếp vọng tới từ bên dưới.
“Ai đó!”
Cook đã tiến tới sau lưng y, tốc độ leo cầu thang quá nhanh đối với một người to lớn như thế.
“Dừng lại! Anh không được phép đến đây.”
Grutas chạy xuyên qua bếp vào sân trong, vừa vẫy tay vừa huýt sáo.
Cook chộp lấy một cây gậy ở góc phòng và đang chạy băng qua bếp tới sân trong thì nhìn thấy một cái bóng lừng lững chắn giữa cửa, một dáng người đội mũ sắt không nhầm lẫn đi đâu được, rồi ba tay lính dù Đức vác theo súng tiểu liên tiến vào trong phòng. Grutas đi sau chúng.
“Chào Cookie.” Grutas nói. Y cầm một cái đùi lợn muối từ cái thùng thưa trên sàn lên.
“Bỏ thịt vào chỗ cũ.” Tên trung sĩ Đức nói, chĩa súng vào Grutas, thái độ sẵn sàng khai hỏa dứt khoát không kém gì hắn thể hiện với gã đầu bếp. “Ra ngoài, đi theo đội tuần tra.”
* * *
Con đường mòn dẫn xuống lâu đài dễ đi hơn nhiều, cỗ xe trống trơn giúp Berndt có một chuyến đi tương đối nhàn nhã, gã quấn dây cương quanh cánh tay, đốt tẩu thuốc hút. Lúc tiến gần đến mép rừng, gã loáng thoáng nhìn thấy hình như một con cò lớn đang cất cánh bay khỏi cành cây cao. Đến lúc tiến lại gần hơn, gã mới thấy cái thứ màu trắng đang phất phơ đó hóa ra là một tấm vải, một cái dù mắc vào đám cành cao, dây bị cắt đứt. Berndt dừng lại.
Gã đặt tẩu thuốc xuống, nhẹ nhàng rời khỏi xe. Gã đặt tay lên mõm Cesar, thầm thì vào tai con ngựa. Rồi gã cảnh giác đi bộ tiến về phía trước.
Một người đàn ông mặc thường phục bằng vải thô đang lủng lẳng trên một cành cây thấp, mới bị treo cổ cách đó không lâu, cái thòng lọng bằng dây điện thít vào cổ anh ta, mặt anh ta xanh đen, đôi ủng lấm bùn lơ lửng cách mặt đất chừng một bước chân. Berndt vội quay trở lại chỗ chiếc xe, tìm chỗ để quay xe trên con đường mòn hẹp, đôi ủng dưới chân gã mang lại một cảm giác kỳ lạ lúc gã tìm cách đặt chân xuống nền đất gồ ghề.
Đúng lúc đó, chúng bước ra từ sau đám cây, ba tên lính Đức dưới sự chỉ huy của một tên trung sĩ đi cùng sáu gã đàn ông mặc thường phục. Tên trung sĩ âm thầm cân nhắc, kéo chốt cây súng máy về phía sau. Berndt nhận ra một tên trong đám thường dân. “Grutas.” Gã nói.
“Berndt, Berndt anh chàng tốt bụng, lúc nào cũng thích lên lớp người khác.” Grutas nói. Y bước đến gần Berndt, mỉm cười ra chiều thân thiện.
“Gã này điều khiển được con ngựa kia.” Grutas nói với tên trung sĩ Đức.
“Biết đâu gã là bạn mày.” Tên trung sĩ nói.
“Biết đâu lại không.” Grutas nói, nhổ vào mặt Berndt. “Chẳng phải tôi đã treo cổ thằng kia còn gì? Tôi cũng quen biết hắn đấy. Chúng ta việc gì phải đi bộ?” Và bằng giọng nhẹ nhàng, y tiếp, “Nếu anh cho tôi mượn lại khẩu súng của tôi thì đến lúc về lâu đài, tôi sẵn sàng bắn gã.”