Hannibal Trỗi Dậy

Chương 25
Trước
image
Chương 25
  • Chương 1
  • Chương 2
  • Chương 3
  • Chương 3
  • Chương 4
  • Chương 5
  • Chương 6
  • Chương 7
  • Chương 8
  • Chương 9
  • Chương 10
  • Chương 11
  • Chương 12
  • Chương 13
  • Chương 14
  • Chương 15
  • Chương 16
  • Chương 17
  • Chương 18
  • Chương 19
  • Chương 20
  • Chương 21
  • Chương 22
  • Chương 23
  • Chương 24
  • Chương 25
  • Chương 26
  • Chương 27
  • Chương 28
  • Chương 29
  • Chương 30
  • Chương 31
  • Chương 32
  • Chương 33
  • Chương 34
  • Chương 35
  • Chương 36
  • Chương 37
  • Chương 38
  • Chương 39
  • Chương 40
  • Chương 41
  • Chương 42
  • Chương 43
  • Chương 44
  • Chương 45
  • Chương 46
  • Chương 47
  • Chương 48
  • Chương 49
  • Chương 50
  • Chương 51
  • Chương 52
  • Chương 53
  • Chương 54
  • Chương 55
  • Chương 56
  • Chương 57
  • Chương 58
  • Chương 59
  • Chương 60
  • Chương 62
Tiếp

PHÒNG ƯỚP XÁC TỐI ĐEN, im lặng như tờ, chỉ có tiếng nước chậm chạp nhỏ giọt trong bồn rửa. Viên thanh tra đứng trên ngưỡng cửa cùng Hannibal, nước mưa đọng trên vai và trên giày họ.

Momund đang ở trong kia. Hannibal có thể ngửi thấy mùi của gã. Thằng bé đợi Popil bật đèn lên, thích thú nghiên cứu quãng thời gian hẳn được viên cảnh sát xem như một khoảng dừng kịch tính.

“Nếu nhìn thấy Paul Momund lần nữa, cậu nghĩ là cậu có nhận ra ông ta không?”

“Tôi sẽ cố gắng hết sức, thưa thanh tra.”

Popil bật đèn. Tay giám đốc nhà tang lễ đã lột bỏ quần áo của Momund cho vào trong các túi giấy theo đúng chỉ dẫn. Ông ta đã vụng về khâu một mảnh áo mưa để khép tạm phần bụng cái xác lại và phủ một cái khăn lên che cái cổ đã bị cắt mất phần đầu.

“Cậu còn nhớ hình xăm của gã đồ tể không?”

Hannibal bước quanh cái xác. “Có. Lúc trước tôi không đọc thấy nó viết gì.”

Thằng bé nhìn thanh tra Popil đang đứng ở phía bên kia cái xác. Nhìn vào mắt viên thanh tra, thằng bé thấy dấu vết của sự khôn ngoan đã bị che mờ.

“Nó viết gì vậy?” thanh tra hỏi.

“Của tao đây, của mày đâu?”

“Có lẽ đúng ra phải là ‘Của mày đây, của tao đâu? Vụ giết người đầu tiên của mày đây, cái đầu của tao đâu?’ Cậu nghĩ sao?”

“Tôi nghĩ là có lẽ hình xăm đó không đáng cho ông để tâm. Tôi hy vọng thế. Ông tưởng là khi tôi xuất hiện ở đây thì những vết thương của ông ta sẽ chảy máu ra ám chỉ à?”

“Gã đồ tể này nói gì với vị phu nhân ấy mà khiến cậu phát điên lên vậy?”

“Nó không làm tôi phát điên, ngài thanh tra. Lời lẽ của ông ta xúc phạm đến tất cả những ai nghe thấy, trong đó có tôi. Ông ta tục tĩu lắm.”

“Ông ta đã nói gì, Hannibal?”

“Ông ta hỏi liệu có đúng là chỗ kín của phụ nữ Nhật nằm ngang hay không, thanh tra ạ. Ông ta gọi là Này, con Nhật!”

“Nằm ngang.” Thanh tra Popil lần theo đường khâu vắt ngang bụng Paul Momund, gần như chạm hẳn vào lớp da. “Nằm ngang rốn như thế này hả?” Viên thanh tra quan sát vẻ mặt Hannibal, tìm kiếm một dấu hiệu nào đấy. Anh ta không tìm thấy gì, vậy nên đành hỏi một câu khác.

“Nhìn thấy ông ta đã chết, cậu cảm thấy thế nào?”

Hannibal đưa mắt xuống bên dưới tấm khăn phủ lên cái cổ. “Thờ ơ.” Thằng bé nói.

* * *

Lần đầu tiên trong đời, đám cảnh sát làng được nhìn thấy một chiếc máy phát hiện nói dối, lúc này đang được đặt ở đồn cảnh sát, và mọi người không tránh khỏi sự tò mò háo hức. Nhân viên điều khiển máy, đã đi từ Paris về đây theo thanh tra Popil, tất bật chỉnh chỗ này sửa chỗ kia, một số hành động đơn thuần chỉ để làm gia tăng bầu không khí kịch tính, trong lúc mấy ống dây nóng dần lên và lớp cách điện phả mùi cotton bị hun nóng hòa vào trong bầu không khí nồng nặc mùi mồ hôi và thuốc lá. Sau đó viên thanh tra, vẫn đang quan sát Hannibal quan sát cái máy, xua hết mọi người ra ngoài, để trong phòng chỉ còn lại anh ta, đứa bé và nhân viên điều khiển máy. Người điều khiển cái máy phát hiện nói dối gắn các thiết bị vào người Hannibal.

“Xưng tên đi.” Người điều khiển máy nói.

“Hannibal Lecter.” Giọng thằng bé khàn khàn gỉ sét.

“Cậu bao nhiêu tuổi?”

“Mười ba tuổi.”

Các kim mực chạy êm ru trên tờ giấy hiển thị thông số. “Cậu đã cư trú ở Pháp bao lâu rồi?”

“Sáu tháng.”

“Cậu có quen biết đồ tể Paul Momund không?”

“Chúng tôi chưa bao giờ được giới thiệu với nhau.” Các đầu kim không hề dao động.

“Nhưng cậu biết ông ta là ai.”

“Phải.”

“Có phải cậu đã có ẩu đả, có nghĩa là đã đánh nhau, với Paul Momund ở chợ hôm thứ Năm?”

“Phải.”

“Cậu có đi học ở trường không?”

“Có.”

“Trường của cậu có yêu cầu phải mặc đồng phục không?”

“Không.”

“Cậu có bao che cho bất kỳ hành vi phạm pháp nào liên quan đến cái chết của Paul Momund không?”

“Bao che cho hành vi phạm pháp?”

“Hãy giới hạn các câu trả lời ở có hoặc không.”

“Không.”

Những đỉnh núi và thung lũng được vẽ bằng nét mực vẫn không hề thay đổi. Áp suất máu không tăng, nhịp tim không tăng, nhịp thở vẫn đều đều, bình tĩnh.

“Cậu biết rằng gã đồ tể đã chết.”

“Phải.”

Người điều khiển máy phát hiện nói dối có vẻ như đã điều chỉnh chút ít các nút ở trên máy.

“Cậu có học toán không?”

“Có.”

“Cậu có học địa lý không?”

“Có.”

“Cậu có nhìn thấy xác chết của Paul Momund không?”

“Có.”

“Cậu có giết Paul Momund không?”

“Không.”

Những vạch thông số bằng mực không có bất kỳ dao động đặc biệt nào. Người điều khiển máy phát hiện nói dối tháo kính ra, một dấu hiệu cho thanh tra Popil biết cuộc kiểm tra đã kết thúc.

Một tên trộm khét tiếng người Orléans sở hữu một hồ sơ tội phạm dài dằng dặc ngồi vào ghế thế chỗ Hannibal. Tên trộm ngồi đợi trong lúc thanh tra Popil và người điều khiển máy phát hiện nói dối hội ý ở hành lang bên ngoài.

Popil trải tờ giấy in các thông số ra. “Bình thường.”

“Thằng bé chẳng trả lời gì hết.” Người điều khiển máy phát hiện nói dối lên tiếng. “Hoặc nó là một đứa trẻ mồ côi trong chiến tranh đần độn, hoặc nó có khả năng tự chủ quái dị.”

“Quái dị.” Popil nhắc lại.

“Anh có muốn hỏi tên trộm trước không?”

“Tôi không hứng thú với anh ta, nhưng tôi muốn anh kiểm tra anh ta bằng máy phát hiện nói dối. Rồi tôi có thể tẩn anh ta vài phát trước mặt thằng bé. Anh hiểu ý tôi chứ?”

* * *

Trên đoạn đường dốc chạy vào làng, một chiếc mô tô lao xuống dốc, đèn pha tắt hết, động cơ cũng im lìm. Người lái xe mặc bộ áo liền quần màu đen và đội mũ trùm ninja màu đen. Chiếc xe lặng lẽ rẽ vào góc ở tận phía cuối quảng trường vắng vẻ, thoáng biến mất đằng sau một chiếc xe thùng bưu điện đậu trước cửa bưu điện và rồi lại tiếp tục xuất hiện, người lái xe đạp bàn đạp cật lực nhưng tận đến khi leo dốc rời khỏi làng mới nổ máy xe.

Thanh tra Popil và Hannibal ngồi trong văn phòng cảnh sát trưởng. Thanh tra Popil đọc thông tin trên nhãn chai Clanzoflat của viên cảnh sát trưởng, băn khoăn không biết có nên làm một cữ rượu.

Rồi anh ta đặt cuộn giấy in thông số kiểm tra của máy phát hiện nói dối lên trên bàn, gảy gảy ngón tay. Cuộn giấy trải ra, để lộ đường đồ thị có rất nhiều đỉnh nhỏ. Trong mắt anh ta, những đỉnh đồ thị này chẳng khác gì những ngọn đồi thấp dưới chân một ngọn núi bị mây che phủ. “Cậu có giết gã đồ tể không, Hannibal?”

“Tôi hỏi ông một câu được chứ?”

“Được.”

“Paris cách đây rất xa. Ông là chuyên gia điều tra cái chết của dân đồ tể à?”

“Chuyên môn của tôi là các tội ác chiến tranh và Paul Momund là đối tượng tình nghi ở một số vụ. Chiến tranh kết thúc không đồng nghĩa với việc chấm dứt các tội ác chiến tranh, Hannibal ạ.” Popil dừng một lát để đọc thông tin quảng cáo trên tất cả các mặt gạt tàn. “Có lẽ tôi hiểu rõ hoàn cảnh của cậu hơn cậu tưởng đấy.”

“Hoàn cảnh của tôi là gì, thanh tra?”

“Cậu đã mồ côi trong chiến tranh. Cậu sống trong một cơ sở từ thiện, sống khép kín, người thân trong gia đình cậu đã chết. Và cuối cùng, cuối cùng người mẹ kế xinh đẹp của cậu đã bù đắp cho tất cả những điều này.” Popil đặt tay lên vai Hannibal, cố gắng tạo thiện cảm với thằng bé. “Mùi hương của cô ấy đã xóa sạch thứ mùi trại trẻ. Ấy vậy nhưng đúng lúc đó, gã đồ tể lại sỉ nhục cô ấy. Nếu cậu giết ông ta, tôi có thể hiểu được. Nói cho tôi nghe đi. Hợp sức cùng nhau, chúng ta có thể giải thích với quan tòa…”

Hannibal rụt người lùi vào sâu hơn trong ghế, tránh ra để Popil không chạm tới được.

“Mùi hương của cô ấy đã xóa sạch thứ mùi trại trẻ? Cho phép tôi hỏi, ông có sáng tác thơ không vậy, thanh tra?”

“Cậu có giết gã đồ tể không?”

“Paul Momund đã tự giết mình. Ông ta chết vì ngu ngốc và thô lỗ.”

Thanh tra Popil có vô số trải nghiệm và hiểu biết về những thứ đáng gờm và giọng nói mà Popil đang lắng nghe đây chính là một thứ đáng gờm như thế; nó mang một âm sắc hơi khác và thật đáng ngạc nhiên là lại phát ra từ cơ thể một đứa trẻ.

Trước đây, Popil chưa bao giờ nghe thấy chiều dài bước sóng đặc biệt này, nhưng anh ta nhận ra nó chính là Thứ Kia. Đã một thời gian rồi, anh ta không cảm thấy sự kích thích của cuộc săn, sự ưu tú hai năm rõ mười của bộ não đối thủ. Anh ta cảm thấy nó trong da đầu, trên cánh tay. Anh ta sống vì nó.

Một mặt, anh ta mong sao tên trộm ngoài kia chính là kẻ đã giết gã đồ tể. Nhưng mặt khác, anh ta lại cân nhắc tính toán, cảm thấy phu nhân Murasaki có lẽ sẽ cô đơn và cần người bầu bạn xiết bao nếu thằng bé kia bị tống vào trại.

“Gã đồ tể đang câu cá. Dao của ông ta dính máu và vảy cá, nhưng không thấy có con cá nào. Người đầu bếp nói cho tôi biết là cậu đã mang một con cá to ngon về làm bữa tối. Cậu kiếm được con cá ấy ở đâu vậy?”

“Đi câu nên được thôi, thanh tra. Chúng tôi vẫn thả một dây mồi vào trong nước đằng sau nhà thuyền. Nếu ông thích thì để tôi chỉ cho mà xem. Ông đã tự chọn mảng tội ác chiến tranh à, thanh tra?”

“Ừ.”

“Vì ông đã mất gia đình trong chiến tranh?”

“Ừ.”

“Tôi có thể hỏi là mất như thế nào không?”

“Một vài người trong chiến đấu. Một vài người thì bị đưa lên tàu chở về phía Đông.”

“Ông có biết thủ phạm là ai không?”

“Không.”

“Nhưng chúng là bọn Vichy – những kẻ giống như gã đồ tể.”

“Ừ.”

“Chúng ta có thể thành thật tuyệt đối với nhau được chứ?”

“Tất nhiên rồi.”

“Ông có tiếc thương gì khi thấy Paul Momund đã chết không?”

* * *

Ở tít phía cuối quảng trường, thợ cạo làng, ông Rubin, bước ra từ một phố nhánh rậm rạp cây cối, sẵn sàng cho chuyến đi dạo quảng trường hằng đêm cùng chú chó sục nhỏ. Ông Rubin, sau cả ngày trò chuyện cùng khách hàng, đến tối lại tiếp tục trò chuyện cùng chú chó. Ông lôi con chó tránh xa vạt cỏ phía trước bưu điện.

“Mày nên giải quyết nỗi buồn trên bãi cỏ nhà Felipe ấy, để không bị ai nhòm ngó.” ông Rubin nói. “Mày mà thải ra đây là thể nào cũng dính phạt cho coi. Mày thì làm gì có tiền chứ. Rồi tao lại là người phải gánh thôi.”

Phía trước bưu điện, có một thùng thư gắn trên một cái cột. Con chó kéo căng dây xích đua người về phía thùng thư và đứng trên hai chân sau.

Nhìn thấy một khuôn mặt lấp ló phía trên thùng thư, ông Rubin nói, “Xin chào.” và nói với con chó, “Cẩn thận nào, đừng có dây bẩn ra ngài đây!” Con chó rên ư ử và đến lúc đó, Rubin mới để ý thấy ở phía bên kia, chẳng có đôi chân nào xuất hiện bên dưới cái thùng thư.

* * *

Chiếc mô tô lao vun vút trên con đường nhựa một làn xe, gần như vượt qua cả ánh sáng rọi chiếu từ cái đèn pha lờ mờ. Có một lúc, đang chạy trên đường, một chiếc ô tô tiến đến từ phía đối diện, người lái mô tô vội ngoặt vào bên dưới hàng cây ven đường, giấu mình cho đến khi những chiếc đèn hậu ô tô đã khuất hẳn khỏi tầm nhìn.

Trong nhà kho lâu đài tối om, đèn pha mô tô mờ dần rồi tắt hẳn, động cơ xe tích tích nguội dần. Phu nhân Murasaki kéo cái mũ ninja đen ra khỏi đầu và bới tóc lên.

* * *

Những luồng ánh sáng từ các đèn hiệu cảnh sát nhất loạt chĩa vào cái đầu của Paul Momund trên nóc thùng thư. Chữ Thằng Quốc xã được viết ngang trán, ngay bên dưới đường chân tóc. Những người lao động ca đêm và dân nhậu khuya túm tụm xung quanh nhìn ngó.

Thanh tra Popil dẫn Hannibal lại gần thùng thư và nhìn thằng bé dưới ánh sáng đang chiếu lên khuôn mặt gã đàn ông đã chết. Anh ta không phát hiện thấy bất kỳ thay đổi nào trong vẻ mặt của thằng bé.

“Cuối cùng thì quân kháng chiến cũng giết Momund rồi.” Ông thợ cắt tóc nói và kể lại với tất cả mọi người về quá trình ông ta tìm thấy cái đầu, cẩn thận tránh nhắc đến các hành vi phạm luật của con chó.

Trong đám đông, một vài người cho rằng không cần thiết phải bắt Hannibal chứng kiến cảnh tượng này. Một phụ nữ lớn tuổi, một y tá làm ca tối đang trên đường về nhà, lớn tiếng nói thẳng ra suy nghĩ đó.

* * *

Popil cho xe cảnh sát chở Hannibal về nhà. Hannibal về đến lâu đài lúc bình minh vừa ửng hồng trên bầu trời và trước lúc vào trong nhà, thằng bé cắt mấy bông hoa, chỉnh lại các cành để bó hoa có độ cao phù hợp trong nắm tay nó. Trong lúc cắt các cành hoa cho đều, thằng bé đã nghĩ ra một bài thơ đi kèm bó hoa. Thằng bé thấy cây cọ vẽ của phu nhân Murasaki trong xưởng vẽ vẫn còn ướt, bèn lấy luôn cây cọ này để viết:

Con vạc lộ diện

Bởi trăng tròn đang lên….

Bên nào đáng yêu hơn?

* * *

Hôm đó, Hannibal đã có một giấc ngủ ngày ngon lành. Thằng bé mơ về Mischa, vào một mùa hè trước chiến tranh, chị vú mang cái chậu tắm của con bé ra ngoài vườn ở căn nhà nghỉ, để ánh mặt trời sưởi ấm làn nước, đàn bướm cải bay dập dờn quanh cô bé Mischa đang ngồi trong nước. Thằng bé cắt cà tím cho đứa em gái và con bé ôm lấy quả cà tím ấm áp ánh mặt trời.

Tỉnh dậy, thằng bé thấy có một tờ thư ngắn được để dưới cánh cửa phòng, kèm theo một bông đậu tía nở rộ. Tờ thư viết: Một khi bị ếch vây khốn, người ta sẽ chọn con vạc.

Trước
image
Chương 25
  • Chương 1
  • Chương 2
  • Chương 3
  • Chương 3
  • Chương 4
  • Chương 5
  • Chương 6
  • Chương 7
  • Chương 8
  • Chương 9
  • Chương 10
  • Chương 11
  • Chương 12
  • Chương 13
  • Chương 14
  • Chương 15
  • Chương 16
  • Chương 17
  • Chương 18
  • Chương 19
  • Chương 20
  • Chương 21
  • Chương 22
  • Chương 23
  • Chương 24
  • Chương 25
  • Chương 26
  • Chương 27
  • Chương 28
  • Chương 29
  • Chương 30
  • Chương 31
  • Chương 32
  • Chương 33
  • Chương 34
  • Chương 35
  • Chương 36
  • Chương 37
  • Chương 38
  • Chương 39
  • Chương 40
  • Chương 41
  • Chương 42
  • Chương 43
  • Chương 44
  • Chương 45
  • Chương 46
  • Chương 47
  • Chương 48
  • Chương 49
  • Chương 50
  • Chương 51
  • Chương 52
  • Chương 53
  • Chương 54
  • Chương 55
  • Chương 56
  • Chương 57
  • Chương 58
  • Chương 59
  • Chương 60
  • Chương 62
Tiếp

TRUYỆN ĐỀ CỬ

Loading...
error: Content is protected !!