HANNIBAL LECTER lái một chiếc mô tô BMW động cơ boxer xi lanh đôi, vốn bị quân đội Đức bỏ lại trên đường rút quân. Nó đã được phun sơn lại, vẫn màu đen như cũ, tay lái thấp và có yên đèo đằng sau. Phu nhân Murasaki ngồi đằng sau hắn, chân đi bốt, đầu thắt băng đô – khiến cô phảng phất có nét của một thổ dân Apache giữa Paris. Cô ôm Hannibal, hai bàn tay đặt hờ lên mạng sườn hắn.
Đêm qua trời mưa còn bây giờ mặt đường sạch sẽ và khô ráo giữa buổi sáng chan hòa ánh nắng, lốp xe vững vàng bám đường khi chiếc xe nghiêng đi mỗi lúc vào cua trên con đường xuyên rừng Fontainebleau, lao vun vút qua những dải bóng cây và những vạt nắng đổ xuống vắt ngang đường, bầu không khí mát lạnh giăng mắc khắp những đoạn đường dốc và rồi sưởi ấm khuôn mặt họ khi họ phóng xe qua những trảng rừng thưa.
Với người ngồi trên yên sau, độ nghiêng của chiếc mô tô sẽ được phóng đại lên gấp nhiều lần và trong vài dặm đường đầu tiên, Hannibal cảm thấy phu nhân Murasaki sau lưng hắn cứ chốc chốc lại phải tìm cách điều chỉnh thế ngồi, nhưng rồi cô cũng tìm ra được cảm giác đúng, nhận ra độ nghiêng thực vênh năm độ so với trong tưởng tượng của cô, và từ lúc đó, trọng lượng của cô đã hòa vào làm một với trọng lượng của hắn trong lúc họ lao vun vút xuyên qua khu rừng. Họ đi qua một bờ giậu rậm rịt cây kim ngân và không khí thấm đẫm hương vị ngọt ngào, đến độ cô nếm được cả vị ngọt trên môi. Nhựa đường và cây kim ngân.
Quán Café de L’Este nằm trên bờ phía Tây sông Seine, cách ngôi làng Fontainebleau chừng nửa dặm, trông ra khu rừng bên kia sông, với tầm nhìn đẹp đến nao lòng. Xe dừng lại tắt máy và bắt đầu kêu tích tích trong lúc động cơ nguội dần. Gần lối vào sân hiên có một cái chuồng chim nhốt mấy con sẻ rừng, một đặc sản bí mật của quán. Các quy định phản đối việc ăn thịt sẻ rừng được ban bố rồi lại bị hủy bỏ. Trong thực đơn của nhà hàng, chúng được kê dưới tên chim chiền chiện. Sẻ rừng là loài chim có giọng hót đặc sắc và lúc này đám sẻ rừng ở quán này đang thích thú tận hưởng ánh mặt trời.
Hannibal và phu nhân Murasaki dừng chân một lát ngắm lũ chim. “Nhỏ quá, xinh quá.” Cô nói, vẫn chưa bình tĩnh lại sau chuyến đi. Hannibal tì trán lên cái lồng.
Bầy chim nhỏ quay đầu sang nhìn hắn bằng một con mắt. Giọng hót của chúng đặc sệt thổ âm vùng Baltic, giống hệt tiếng hót hắn từng nghe trong những khu rừng quê hương.
“Chúng cũng giống hệt chúng ta.” Hắn nói. “Chúng có thể ngửi thấy mùi đồng loại đang bị nấu chín trên bếp, ấy vậy nhưng chúng vẫn cố cao giọng hót. Đi nào.”
Ba phần tư số bàn ngoài hiện đã kín chỗ, một tập hợp người từ đủ mọi quốc gia, đủ mọi thành thị, ăn mặc đẹp đẽ, đang thưởng thức bữa trưa sớm. Người bồi bàn tìm được một bàn trống cho họ.
Bàn cạnh họ toàn khách nam, ai cũng đều gọi món sẻ rừng. Khi những con chim quay nhỏ được mang ra, họ bèn cúi rạp xuống sát cái đĩa và phủ khăn ăn lên trên đầu để lưu mùi thơm lâu hơn.
Hannibal ngửi mùi rượu vang từ bàn bên và nhận thấy rượu đã bị ám mùi nút bần. Hắn nhìn sang mà không thể hiện thái độ gì vì hiển nhiên, đằng nào đám khách ấy chẳng uống sạch.
“Cô có muốn ăn kem trái cây không?”
“Tuyệt hảo.”
Hannibal vào sâu trong nhà hàng. Hắn dừng lại ngay trước tấm bảng đen giới thiệu các món đặc sản của quán, đọc giấy phép kinh doanh của nhà hàng dán cạnh quầy thu ngân.
Trên hành lang, một cánh cửa gắn biển Privé. Hành lang vắng tanh. Cửa không khóa. Hannibal mở cửa, bước xuống hành lang dẫn tới hầm. Một cái thùng gỗ thưa trên sàn đang mở hé nắp, để lộ một cái máy rửa bát của Mỹ.
Hannibal cúi người lại gần, đọc nhãn vận chuyển trên thùng. Hercule, phụ việc nhà hàng, bê một giỏ khăn ăn bẩn xuống cầu thang. “Anh đang làm gì ở đây thế, đây là khu vực nội bộ.”
Hannibal quay lại, nói bằng tiếng Anh. “Chậc, thế nó nằm chỗ nào vậy? Cánh cửa viết privy*, phải không? Tôi xuống dưới này nhưng lại chỉ thấy mỗi cái tầng hầm. Nhà xí ấy, ông bạn, cầu tiêu, nhà vệ sinh, nó ở đâu vậy? Nói tiếng Anh đi. Anh có hiểu nhà xí là gì không? Nói nhanh đi, tôi sắp không chịu nổi nữa rồi.”
(*)“Privé” trong tiếng Pháp nghĩa là “riêng, tư”, ở đây nghĩa là “khu vực riêng”. “Privy” tiếng Anh có nghĩa là nhà xí, nhà vệ sinh.
“Privé, privé!” Hercule chỉ lên trên cầu thang. “Toilette!” Và lúc lên đến đầu cầu thang, anh ta vẫy tay chỉ Hannibal đi cho đúng hướng.
Hắn quay lại bàn đúng lúc món kem trái cây được mang ra. “Kolnas đang dùng tên ‘Kleber’. Tên này được ghi trên giấy phép kinh doanh. Ngài Kleber đang cư ngụ tại đường Juliana. Ái chà chà, xem kìa.”
Petras Kolnas bước vào hiên cùng gia đình, mặc trang phục đi lễ nhà thờ.
Khi Hannibal nhìn về phía Kolnas, tiếng chuyện trò xung quanh hắn lịm dần đi và tầm nhìn của hắn bị phủ kín bởi những chấm đen.
Bộ com lê Kolnas đang mặc may bằng vải pôpolin mới cứng, màu đen tuyền, ve áo gài chiếc ghim cài áo của câu lạc bộ Rotary. Vợ và hai con gã đều rất ưa nhìn, mang những nét đặc trưng của người Đức. Dưới ánh mặt trời, bộ ria cùng mái tóc ngắn màu đỏ của Kolnas sáng lên như lông lợn. Kolnas lại chỗ quầy thu ngân. Gã nhấc thằng con trai, đặt nó ngồi lên trên một cái ghế quầy bar.
“Kolnas Nhà Giàu.” Hannibal nói. “Chủ Nhà hàng. Kẻ Sành Ăn. Y ghé qua nhà hàng kiểm tra két tiền trên đường đến nhà thờ. Trông y ăn mặc thanh lịch chưa kìa.”
Người trưởng nhóm phục vụ cầm quyển sổ đặt bàn bên cạnh điện thoại, mở ra đưa cho Kolnas kiểm tra.
“Ngài nhớ cầu nguyện cho chúng tôi nhé, thưa ngài.” Người trưởng nhóm phục vụ nói.
Kolnas gật đầu. Chặn thân hình lực lưỡng chắn ngang tầm nhìn của các khách hàng để họ không nhìn thấy gã làm gì, Kolnas rút khẩu Webley .455 ra khỏi thắt lưng, đặt nó lên một cái kệ khuất sau rèm bên dưới quầy thu ngân và đưa tay vuốt cho phẳng chiếc áo gi lê. Gã nhặt mấy đồng xu sáng bóng trong ngăn kéo để tiền và lấy khăn tay lau hết cả mấy đồng. Gã đưa một đồng cho thằng bé ngồi trên ghế quầy bar. “Cái này là để con quyên cho nhà thờ, cất vào trong túi đi.”
Gã cúi xuống đưa đồng còn lại cho đứa con gái nhỏ. “Đây là tiền cho con quyên góp nhé, bé cưng. Đừng ngậm vào mồm đấy. Cất cẩn thận trong túi đi!”
Vài vị khách ở quầy bar đã chú ý đến Kolnas và vài người trong số đó là khách quen gã phải ra chào hỏi. Kolnas hướng dẫn con trai bắt tay sao cho mạnh mẽ. Đứa con gái gã thả tay khỏi ống quần bố, chập chững bước đi giữa các dãy bàn, chinh phục mọi người bằng vẻ đáng yêu với chiếc váy nhiều tầng bồng bềnh, mũ bonnet bằng ren và những món nữ trang em bé, khiến vị khách nào nhìn thấy cũng đều phải mỉm cười với nó.
Hannibal nhấc quả anh đào trên lớp kem trái cây, giơ nó ra cạnh mép bàn. Đứa bé bèn bước lại gần, chìa tay ra, ngón cái và ngón trỏ thủ thế, sẵn sàng giật quả anh đào khỏi tay Hannibal. Mắt Hannibal sáng rực. Hắn đưa lưỡi ra một thoáng rồi hát lên cho đứa bé nghe.
“Gã nhỏ bé đứng trong rừng, tĩnh lặng… Cháu có biết bài hát đó không?”
Lừa lúc đứa bé đang ăn quả anh đào, Hannibal kín đáo nhét một thứ gì đó vào túi nó. “Tuyền đỏ thẫm một sắc áo choàng.”
Đột nhiên, Kolnas xuất hiện cạnh bàn. Gã ôm đứa bé lên. “Con bé không biết bài hát đó đâu.”
“Chắc hẳn ông phải biết bài hát đó nhỉ, tôi nghe giọng ông không giống giọng người Pháp cho lắm.”
“Giọng ông cũng thế, thưa ông.” Kolnas nói. “Theo tôi thấy ông và vợ ông hẳn không phải người Pháp gốc. Nhưng giờ tất cả chúng ta đều là người Pháp rồi.”
Hannibal và phu nhân Murasaki dõi nhìn theo trong lúc Kolnas lùa vợ con vào trong một chiếc Traction Avant.
“Bọn trẻ dễ thương thật đấy.” Cô nói. “Bé gái xinh quá.”
“Phải rồi.” Hannibal nói. “Nó đang đeo vòng tay của Mischa.”
* * *
Tít phía trên bàn thờ ở Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, có một bức tượng đặc biệt máu me, hình Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập giá, một chiến lợi phẩm thế kỷ mười bảy được mang từ Sicily về. Bên dưới bức tượng Chúa đang chịu hình, vị linh mục giơ cao cốc rượu lễ.
“Hãy uống chén này.” Cha nói. “Này là máu ta, đổ ra vì các con để nên ơn tha tội.” Cha giơ bánh thánh lên cao. “Này là mình ta, bẻ ra cho các con, bị nộp để các con không bỏ mạng, mà được sự sống đời đời. Hãy cầm lấy mà ăn, và hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến ta.”
Kolnas, hai tay ôm hai đứa bé, ngậm miếng bánh thánh trong miệng và quay về chỗ ngồi bên cạnh vợ. Hàng người đi hết một vòng và rồi chiếc đĩa quyên tiền bắt đầu được đưa đến từng chỗ. Kolnas thì thầm vào tai con trai. Thằng bé moi một đồng tiền từ trong túi quần đặt vào trong đĩa. Kolnas lại thì thầm vào tai con gái, nhiều khi con bé vẫn không nguyện ý đem đồ của mình đi quyên tặng.
“Katerina…”
Bé gái sờ tìm trong túi và bỏ vào trong chiếc đĩa quyên tiền một cái thẻ bài quân đội cháy sém khắc tên Petras Kolnas. Kolnas không nhìn thấy nó, mãi cho tới khi ông bõ nhà thờ nhặt cái thẻ bài từ trong đĩa trả lại cho gã, mỉm cười kiên nhẫn chờ Kolnas bỏ một đồng xu vào để thế chỗ.