CÔ SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG CÓ MÁI TÓC đỏ sẫm và đôi mắt màu hạt dẻ giống y như Hannibal. Thấy hắn đứng lùi ra sau, tránh khỏi cái vòi nước trong hành lang trường y để nhường cho cô uống trước, cô ta gí sát mặt vào mặt hắn và khịt khịt mũi. “Cậu bắt đầu hút thuốc từ bao giờ đấy?”
“Tôi đang cố bỏ đây.” Hắn nói. “Lông mày cậu cháy sém rồi kìa!”
“Lúc châm lửa sơ ý quá đấy.”
“Nếu cậu bất cẩn với lửa liếc như thế thì đừng nấu nướng.” Cô ta liếm ướt ngón tay cái rồi vuốt cho mượt lông mày hắn. “Tối nay tôi và bạn cùng phòng nấu thịt bò xốt vang, nhiều lắm nên nếu…”
“Cảm ơn cô. Thật lòng cảm ơn. Nhưng tôi có hẹn rồi.”
Hắn đã gửi thư cho phu nhân Murasaki xin phép ghé thăm. Hắn đã tìm thấy một nhành đậu tía để gửi kèm bức thư, nhành cây đã khô héo, rất phù hợp để biểu đạt một lời xin lỗi hèn mọn. Thư mời của cô kèm theo hai cành cây nhỏ, một nhành tường vi và một cành thông có cả một quả thông bé xíu. Cành thông không phải chỉ được gửi đi cho có. Thông có thể gợi ra những ý nghĩa bất tận và đầy kích thích.
* * *
Hàng thủy hải sản quen thuộc của phu nhân Murasaki không làm cô thất vọng. Cô mua được bốn con nhím biển hảo hạng thả trong nước biển mát lạnh được lấy từ chính vùng biển Brittany quê hương chúng. Ở cửa hàng bên cạnh, người bán thịt bán cho cô món lá lách bê đã ướp sẵn sữa tươi và được ép giữa hai tấm kim loại. Cô tạt qua cửa hàng Fauchon mua bánh tart lê và cuối cùng rước thêm một túi cam nữa.
Tay xách nách mang, cô dừng lại trước hàng hoa. Không cần, Hannibal chắc chắn sẽ mang hoa tới.
* * *
Quả nhiên, Hannibal mang hoa tới. Hoa tulip, hoa ly và lá dương xỉ bó thành một bó dài, chĩa thẳng lên từ chỗ ngồi đằng sau trên yên xe mô tô của hắn. Hai phụ nữ trẻ nhìn thấy cảnh này lúc đang băng qua đường, bèn bảo hắn bó hoa kia trông chẳng khác gì cái đuôi gà trống. Hắn nháy mắt với họ đúng lúc đèn tín hiệu chuyển màu, rồi rồ ga ầm ầm phóng xe đi, lòng phơi phới.
Hắn đỗ xe trong con ngõ bên cạnh tòa nhà nơi phu nhân Murasaki sinh sống rồi đi bộ vòng qua góc tòa nhà, cầm theo bó hoa tiến đến cổng. Hắn vừa vẫy tay chào người gác cổng thì Popil và hai cảnh sát đô con bước ra từ sau một ngưỡng cửa, tóm lấy hắn. Popil tước bó hoa khỏi tay hắn.
“Không phải hoa tặng ông đâu.” Hannibal nói.
“Cậu đã bị bắt.” Popil nói. Sau khi Hannibal đã bị tra tay vào còng, Popil liền nhét bó hoa vào dưới nách hắn.
* * *
Trong văn phòng riêng ở đường Quai des Orfèvres, thanh tra Popil bỏ lại Hannibal một mình, để hắn ngồi đợi tầm nửa tiếng đồng hồ giữa bầu không khí đặc biệt của đồn cảnh sát. Đến khi quay lại văn phòng, thanh tra Popil thấy gã thanh niên đang cắm cành hoa cuối cùng vào trong một bình nước trên bàn làm việc của anh ta, hoàn tất một tác phẩm cắm hoa nghệ thuật.
“Ông có thích nó không?” Hannibal hỏi.
Thanh tra Popil vung cái dùi cui nhỏ bằng cao su quật thẳng vào người Hannibal làm hắn ngã xuống.
“Cậu thì có thích nó không?” Popil hỏi.
Tay cảnh sát đô con hơn trong hai gã tiến lại sau lưng Popil và lừng lững đứng nhìn xuống Hannibal. “Được hỏi câu nào thì trả lời câu ấy đi: tôi đã hỏi cậu có thích nó không?”
“Nó thành thật hơn cái bắt tay của ông nhiều. Và ít nhất cái dùi cui cũng sạch sẽ.”
Popil moi từ một cái phong bì ra hai thẻ bài quân đội được móc vào một vòng dây thắt nút. “Tìm thấy trong phòng cậu đấy. Hai gã này đã bị định tội trong phiên xử vắng mặt ở Nuremberg. Câu hỏi là: Chúng đang ở đâu?”
“Tôi không biết.”
“Cậu không muốn chứng kiến chúng bị treo cổ à? Người hành hình sử dụng phương pháp treo cổ kiểu Anh, nhưng không đến mức bứt đứt đầu chúng. Ông ta không luộc và kéo căng sợi dây thừng. Chúng bị dền dứ liên tục không khác gì một cái yoyo. Cung cách đó hẳn phù hợp với khẩu vị của cậu.”
“Ông sẽ chẳng bao giờ biết gì về khẩu vị của tôi đâu, ngài thanh tra ạ.”
“Vấn đề không phải là công lý, cậu chỉ cần được là người giết chúng.”
“Cũng như ông thôi, đúng không, thanh tra? Ông luôn quan sát họ chết như thế nào. Đó chính là khẩu vị của ông. Chúng ta nói chuyện riêng được không?” Hắn moi từ trong túi quần ra một lá thư nhuốm máu được bọc trong giấy bóng kính. “Louis Ferrat gửi thư cho ông này.”
Popil ra hiệu cho hai cảnh sát rời khỏi phòng.
“Trong lúc cắt quần áo ra khỏi xác Louis, tôi đã tìm thấy lá thư này gửi cho ông.” Hắn đọc to phần thư phía bên trên chỗ đã bị gấp lại. “Thanh tra Popil, tại sao ông cứ tra tấn tôi bằng những câu hỏi ông sẽ chẳng tự trả lời được? Tôi đã gặp ông ở Lyons. Và gã còn viết tiếp nữa.” Hannibal chuyển lá thư cho Popil. “Nếu ông muốn đọc thì giờ nó đã khô rồi đấy. Nó không có mùi đâu.”
Lá thư kêu lạo xạo khi Popil mở nó ra, những vụn giấy sẫm màu rơi ra khỏi nếp gấp. Khi đã đọc thư xong, Popil ngồi im, cầm lá thư để cạnh thái dương.
“Có người thân nào trong gia đình ông vẫy tay chào tạm biệt ông từ trên tàu không?” Hannibal hỏi. “Hôm đó, ông có điều khiển giao thông ở ga tàu hỏa không?”
Popil rụt tay lại.
“Ông không muốn làm thế đâu.” Hannibal nhẹ nhàng nói. “Nếu biết được bất cứ chuyện gì, việc gì tôi lại phải nói cho ông chứ? Đó là một câu hỏi chính đáng đấy, thanh tra. Biết đâu ông sẽ tìm đường đưa chúng sang Argentina.”
Popil nhắm mắt lại rồi lại mở ra. “Tôi vẫn luôn coi Pétain là người hùng của mình. Hồi Thế chiến thứ nhất, cha tôi và các bác các chú tôi đã chiến đấu dưới ngọn cờ của ông ấy. Khi thành lập chính quyền mới, ông ấy đã bảo chúng tôi, ‘Hãy bảo vệ hòa bình cho tới khi chúng ta tống cổ được bọn Đức đi. Chính quyền Vichy sẽ cứu nước Pháp’. Chúng tôi vốn là cảnh sát, có vẻ như trước sau cũng vẫn chỉ là một nhiệm vụ mà thôi.”
“Hồi đó, ông có hỗ trợ quân Đức không?”
Popil nhún vai. “Tôi bảo vệ hòa bình. Có lẽ điều đó đã góp phần hỗ trợ chúng. Rồi tôi nhìn thấy một trong những chuyến tàu của chúng. Tôi đào ngũ và tìm thấy quân Kháng chiến. Họ không tin tôi, cho tới tận khi tôi giết chết một tên Gestapo. Để trả đũa, quân Đức đã bắn chết tám dân làng. Tôi cảm thấy dường như chính mình đã tự tay giết chết họ. Đó là chiến tranh kiểu gì vậy chứ? Chúng tôi chiến đấu ở Normandy, trong các hàng rào, phải nhận biết nhau bằng tín hiệu này.”
Anh ta cầm một dụng cụ tạo tiếng lách cách từ trên bàn làm việc lên. “Chúng tôi giúp quân Đồng Minh từ các vị trí đổ bộ tiến sâu vào trong.” Anh ta nhắp dụng cụ đó hai lần. “Thế này có nghĩa tôi là bạn, đừng bắn. Tôi không quan tâm đến Dortlich. Hãy giúp tôi tìm ra chúng. Cậu săn lùng Grutas bằng cách nào?”
“Nhờ người thân ở Lítva, các mối liên hệ của mẹ tôi trong nhà thờ.”
“Chỉ cần dựa vào lời làm chứng của tên làm giấy tờ giả, tôi cũng có thể tống giam cậu vì tội sử dụng giấy tờ giả. Nếu tôi thả cậu đi, cậu thề sẽ nói cho tôi biết tất cả những gì cậu phát hiện ra chứ? Cậu sẽ thề có Chúa chứ?”
“Thề có Chúa à? Được, tôi thề có Chúa. Ông có cuốn Kinh Thánh nào không?” Popil có một cuốn Suy tưởng trên giá sách. Hannibal rút cuốn sách ra. “Hoặc chúng ta có thể viện đến Pascal của ông vậy, ông Pascal.”
“Cậu dám thề trên sinh mạng của phu nhân Murasaki không?”
Một thoáng lưỡng lự. “Có, thề trên sinh mạng của phu nhân Murasaki.” Hannibal cầm dụng cụ tạo tiếng lách cách lên và nhắp hai lần.
Popil chìa hai cái thẻ bài quân đội ra và Hannibal thu chúng lại.
* * *
Khi Hannibal đã rời khỏi văn phòng, trợ lý của Popil tiến vào trong. Popil ra hiệu từ chỗ cửa sổ. Ngay khi Hannibal vừa từ tòa nhà bước ra ngoài đường, một cảnh sát mặc thường phục bèn bám sát theo hắn.
“Hắn biết gì đó. Lông mày hắn bị cháy sém. Kiểm tra các vụ hỏa hoạn ở Île de France ba ngày gần đây đi.” Popil nói. “Khi hắn đã dẫn chúng ta tới chỗ Grutas, tôi muốn lôi hắn ra tòa vì vụ gã đồ tể hồi hắn còn nhỏ.”
“Sao lại lôi vụ gã đồ tể ra?”
“Hắn phạm tội đó hồi còn vị thành niên, Étienne, một tội ác do tình cảm che mờ lý trí. Tôi không muốn hắn bị kết tội, tôi muốn hắn bị phán là mắc bệnh tâm thần. Một khi hắn đã bị tống vào nhà thương điên, người ta sẽ có thể nghiên cứu và thử tìm hiểu xem hắn thực ra là gì.”
“Anh nghĩ hắn thực ra là gì?”
“Cậu nhóc Hannibal đã chết năm 1945 rồi, chết ngoài kia giữa trời tuyết, trong lúc cố gắng cứu đứa em gái. Trái tim của thằng bé đó đã chết cùng Mischa rồi. Giờ hắn là gì? Hiện tại, ta vẫn chưa tìm được cách gọi chính xác. Vì không tìm được từ nào thích hợp hơn, chúng ta cứ gọi hắn là con quái vật đi.”